Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam Cộng Hòa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam Cộng Hòa. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

Cái dở của “lực lượng thứ ba”

Phạm Hồng Sơn

Ông Nguyễn Ngọc Giao, một trí thức miền Nam ủng hộ miền Bắc cộng sản, tức thuộc “lực lượng thứ ba” thời Việt Nam Cộng Hòa, vừa kể lại một chi tiết nhỏ liên quan tới chuyện đi "học tập cải tạo" của một viên chức Việt Nam Cộng Hòa sau ngày 30/4. Ông Giao thuật rằng người tù khi trở về đã trả lời người con về chuyện đối xử trong tù cộng sản thế này: 

Bỏ qua đi. Nếu bên mình thắng, có lẽ đối xử với bên kia còn tệ hơn”.

Về mặt sự thật, chúng ta không thể xác định câu trả lời này chính xác đến đâu. Trường hợp đây thực là lời nói của nhân vật chăng nữa, tôi cho rằng khả năng “có lẽ” đó quá nhỏ so với khả năng Việt Nam Cộng Hòa sẽ đối xử nhân bản (hơn) với miền Bắc, nếu Việt Nam Cộng Hòa thắng. Tại sao? Ở đây tôi chỉ dẫn lại hai trong số rất nhiều cứ liệu:

1. Con gái của một bộ trưởng “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam” – tổ chức do miền Bắc lập ra để đối kháng bạo lực với Việt Nam Cộng Hòa – vẫn quan hệ thân tình với con Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và vẫn được Tổng thống quí mến, giúp đỡ.

2. Vợ của một thứ trưởng của “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam” vẫn sinh sống đàng hoàng tại Sài Gòn và còn làm việc trong nghành tòa án của Việt Nam Cộng Hòa.

Cứ liệu 1 có thể kiểm chứng trong hồi ký A Vietcong Memoir của ông Trương Như Tảng. Cứ liệu 2, hồi ký Những chuyến ra đi hoặc liên hệ ngay với tác giả/nhân chứng hiện còn sống: nhà nghiên cứu Lữ Phương.

Người như ông Nguyễn Ngọc Giao chắc chắn phải biết và trực nghiệm nhiều hơn các sự kiện, đặc tính khoan dung, đa nguyên, nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa như vừa kể. Vì vậy, nếu thực sự nhân vật đã có đánh giá như ông Giao viết, thì một người trí thức hiểu biết về Việt Nam Cộng Hòa và lại thường bày tỏ yêu mến tự do, dân chủ như ông Giao lẽ nào có thể thuật lại một cách vô tâm đến vậy? Nhất là trong tình trạng đất nước hiện nay?

Nghiên cứu, phê bình về “lực lượng thứ ba” đã có nhiều bài viết công phu, như của tác giả Nguyễn Văn Lục. Nhưng theo tôi, cái dở của họ không phải họ là người được sống trong thể chế văn minh (hơn) của miền Nam lại đi ủng hộ miền Bắc cộng sản. Bởi, sai lầm này dẫu quá đớn đau cho dân tộc cũng thường thôi nếu nhìn kỹ hơn về bản tính dân tộc và về bản thể con người. Cái dở của họ không phải là các hoạt động xã hội hiện nay của họ quá rụt rè so với thời Sài Gòn dẫu cái Ác hiện nay ác gấp nhiều lần trước. Bởi ai cũng chỉ có một thời sung sức nhất định. Cái dở của họ cũng không phải chuyện chưa xin lỗi dân tộc vì đã (vô tình) tiếp tay phá bỏ một chế độ văn minh hơn. Bởi Elton John đã viết: “Xin lỗi” hình như là từ khó nói nhất

Cái dở, cái tồi của "lực lượng thứ ba" là đến tận hôm nay vẫn có người cố tình biện bạch cho sai lầm của bản thân bằng những cách tinh vi, nhưng thiếu lý tính.


*Cập nhật: Trang Diễn Đàn (www.diendan.org), mà ông Nguyễn Ngọc Giao là một người chủ chốt, đã có phản hồi (trong một phản hồi cho một ý kiến khác) cho bài viết này. Thiển nghĩ, mọi sự liên quan đến vấn đề đã tự thể hiện rõ, nên tôi không bình luận, chỉ xin đăng lại ảnh của phản hồi đó ở đây hầu bớt được phần nào phiền phức cho độc giả muốn theo rõi (19:25 GMT+7 ngày 13/09/2015). (Hình sẽ lớn hơn khi bấm chuột trái vào bức ảnh)



Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

Nhà báo Đoan Trang và “Quân lực Việt Nam Cộng hòa” (3)

Xem phần: (1), (2)

Phạm Hồng Sơn

Rắc rối đa nguyên

Chúng ta đã quá thấu vì những thảm cảnh do độc tài gây ra. Nhưng dân chủ không phải không có những phiền toái.

Vì dân chủ tôn trọng ý kiến khác biệt nên mọi cá nhân, hội nhóm, đảng phái luôn phải vất vả, xoay trở để cạnh tranh, đối phó với các cá nhân, hội nhóm, đảng phái khác đang tồn tại hoặc liên tục được sinh ra. Chính vì thế mọi xã hội dân chủ đều không có tính “bình yên”, “ổn định” như trong chính thể độc tài. Mỗi cá nhân, hội nhóm, đảng phái dù là (đang) xuất sắc nhất cũng tự biết rằng vị thế của mình chỉ là tạm thời và phút chốc có thể trở thành tầm thường - một điều không dễ chịu đối với mọi con người. Nhưng đổi lại con người trong chính thể dân chủ giữ được tư duy độc lập đồng thời không ngừng được hoàn thiện, bồi đắp thêm những giá trị, hiểu biết, do chính bản thân ngộ qua, hay học được, kết hợp được từ những cá nhân, hội đoàn khác. Và, quan trọng hơn, cùng một vấn đề luôn luôn có hơn một giải pháp, ý tưởng để lựa chọn hay dự phòng, đưa đến hệ quả tránh cho toàn xã hội, cộng đồng không bị “Xuống HCNút”. Kẻ cầm quyền cũng được hưởng lợi: được sống một cuộc đời thật và cầm quyền với sự an tâm do chính đáng. Vì vậy, những lãnh đạo dân chủ dù cũng không thích phải cạnh tranh, họ luôn bảo vệ tính đa nguyên, chống sự độc tôn của cá nhân, hội đoàn, đảng phái.

Trong bản Luận về chính quyền (federalist) số 10 rất nổi tiếng của James Madison viết năm 1787, ông kết luận: “Chúng ta buộc phải thừa nhận rằng những NGUYÊN NHÂN GỐC RỄ của nạn bè đảng, hội nhóm là không thể loại bỏ, và cách chữa duy nhất chỉ nằm trong việc kiểm soát các TÁC ĐỘNG của chúng mà thôi.[i] Trước đó Madison đã chứng minh muốn dẹp được sự khác biệt, bất trắc, lộn xộn nhiều khi biến thành cãi vả, ẩu đả, bạo lực của các hội nhóm, ý kiến khác biệt thì chỉ bằng cách triệt hạ hết tự do của xã hội - điều Madison không bao giờ chấp nhận.

Nhìn trên những căn bản như thế chúng ta sẽ thấy sự xuất hiện của “Quân lực VNCH”, hoặc các nhóm hội đặc biệt khác, là điều tất yếu và là một vốn quí cho xã hội. Và sự bất đồng giữa “ban tổ chức” cuộc tuần hành vì cây xanh (là một hội nhóm) với nhóm “Quân lực VNCH” cũng là điều thường tình.

Vậy vấn đề quan trọng cần xét là mục đích của hai bên và ứng xử của hai bên trong sự bất đồng đó. Về mục đích, như đã phân tích, qua thể hiện, cả hai bên đều có những mục đích (chung, riêng) đều theo hướng mang lại tiến bộ cho xã hội. Nhưng, như đã thấy, mục đích xiển dương “Việt Nam Cộng Hòa” của nhóm “Quân lực VNCH”, dù tốt cho xã hội, chưa (hoặc không) tương thích với “ban tổ chức” và hệ quả là “ban tổ chức” đã lên tiếng phản đối, bác bỏ và khẳng định độc quyền về tuần hành. Theo tôi cách ứng xử này của “ban tổ chức” không phải là lựa chọn tối ưu. Nếu chỉ nhằm đáp ứng một nhu cầu cần phải chứng tỏ “ban tổ chức” không hề liên quan với “Quân lực VNCH”, có rất nhiều cách khác đẹp hơn cách đã làm để đạt được mục đích này.

Nhưng chúng ta cũng có thể lý giải thái độ đó của “ban tổ chức” theo tâm lý học hình sự (criminal psychology). Theo thuyết này, trong hoàn cảnh bị đe dọa, người thiếu kinh nghiệm thường có phản ứng tức khắc bằng thái độ (hành động) thể hiện sự lìa xa với những đối tượng (vấn đề) mà người đó nghĩ có thể làm cho tình trạng nguy hiểm hơn. Sự “lìa xa” đó có nhiều mức độ từ thờ ơ, từ chối, bác bỏ đến ruồng rẫy, đả phá. Tuy nhiên phản ứng “lìa xa” đó không thể qua mắt được các điều tra viên hạng trung bình, đó là dấu hiệu khả tín của “cái tôi đang hoảng”, theo kiến thức thuộc loại cơ sở vừa nêu của hình sự học.

Sau khi đăng hai phần của bài viết này, tôi đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi trong đó có một luận điểm cho rằng “ban tổ chức” phải có thái độ như thế là  “nhằm mục đích tập dượt cho những người chưa quen, những người vẫn còn sợ việc xuống đường. Làm cho họ quen đã, xuống đường nhiều đã, rồi...

Theo tôi, và phải nói thẳng, luận điểm này hoặc là ngụy biện để che chắn cho một kế hoạch nào đó hoặc là ngộ nhận, sai hoàn toàn về quan điểm vận động tiến bộ. 

Thứ nhất, vì chúng ta không thể cải thiện một xã hội độc tài bằng cách tập cho người dân xuống đường với tinh thần độc quyền, độc tài. Điều đó chỉ có thể làm thay đổi hình thức độc tài và gây rạn nứt thêm cho xã hội, không thể giúp xã hội nghiêng được sang dân chủ tự do. Chúng ta nên nhớ lại, trong các xã hội độc tài toàn trị, không phải không có các thiết chế có những cái tên như “quốc hội” (nghị viện), “tòa án”, “thẩm phán”, “mít-tinh”, “biểu tình”, “công đoàn”, “bỏ phiếu”, “báo chí” v.v. và cả “đa đảng chính trị” nữa. Tất cả những thứ đó hầu hết đều có, nhưng chỉ có điều: do một nhóm người điều khiển hoặc chỉ một số người được thực hiện mà thôi! 

Thứ hai, lập luận đó rất dễ rơi vào bẫy của nhà độc tài khi họ muốn loại sự tham gia của những cá nhân, hội đoàn không có lợi cho quyền lực độc tài của họ trong khi cho phép nhiều cá nhân, hội đoàn tham gia nhưng vô hại đối với họ. Thủ pháp này có thể gọi là đa nguyên nửa vời. Tựu chung luận điểm đó và giải pháp đó chỉ có lợi cho độc tài.


Rõ ràng, xã hội dân sự Việt Nam trong những năm qua đang sôi động, phát triển. Ý thức tự lập của người dân đã có nhiều dấu hiện cải thiện. Trong môi trường đó, tinh thần đó, dù còn nhiều khiếm khuyết và đầy thách thức, nhiều nhà hoạt động nhiệt thành, với những lứa tuổi, nghề nghiệp, xuất thân khác hẳn nhau, đã xuất hiện và đóng góp rất nhiều, bằng những cách thức mới khác hẳn, cho tiến bộ xã hội. Nhiều người có kiến thức và tài năng thật xuất sắc, cá nhân tôi hết sức khâm phục, ngưỡng mộ. Trên bước đường hoạt động còn đầy chông gai đó chắc chắn họ không thể tránh được những sai sót, thậm chí lỗi lầm, như mọi con người khác. Tôi tin, với một lý tưởng dân chủ vững vàng, họ sẽ ngày càng xuất sắc hơn qua những sai sót có thể đó. Nhưng tôi cũng tin rằng trong xã hội vẫn còn nhiều trí tuệ và tài năng xuất sắc nữa và có thể xuất sắc hơn hết thảy mọi nhà hoạt động xuất sắc đã từng xuất hiện. Nhưng vì một lý do nào đó những người đó vẫn chưa xuất hiện. Chúng ta hãy cùng lưu tâm bảo vệ, tạo cơ hội cho những con người như thế được lên tiếng và thể hiện.



[i]     “The inference to which we are brought is, that the CAUSES of faction cannot be removed, and that relief is only to be sought in the means of controlling its EFFECTS.”

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015

Nhà báo Đoan Trang và “Quân lực Việt Nam Cộng hòa” (2)

Xem phần (1)


Phạm Hồng Sơn

“Quân lực Việt Nam Cộng Hòa”

Qua những gì đã trình bày, mấu chốt của sự cố đã xảy ra nằm ở chỗ những thanh niên ôn hòa, nghiêm nghị trong cuộc tuần hành vì cây xanh đó đã dám thể hiện những biểu tượng, yếu tố liên quan tới “Việt Nam Cộng Hòa” một cách ôn hòa.

“Việt Nam Cộng Hòa” là gì? Đứng về mặt cảm nhận xã hội nói chung, chúng ta phải thừa nhận đây là một cụm từ còn có tính “húy kỵ” vì “Việt Nam Cộng Hòa” đã là một chính thể đối lập, đối kháng với chính thể hiện nay và vẫn bị chính thể hiện nay kỳ thị, coi là “ngụy”, “tay sai”, “bán nước”.

Tuy nhiên, về mặt bản chất, “Việt Nam Cộng Hòa” có thực là một chính thể “tay sai”, “bán nước”, “ngụy”? Căn cứ vào các cứ liệu lịch sử, chúng ta có thể khẳng định tất cả các từ chỉ thị trong dấu “ ” này đều là bóp méo sự thật. Nhìn vào những gì đã thể hiện trên thực tế chỉ trong khoảng 10 năm trở lại đây trong quan hệ giữa chính thể “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” (tiếp nối của “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”) với Trung Hoa Cộng Sản, chúng ta có thể tự tin khẳng định “Việt Nam Cộng Hòa” là một chính thể đã không làm phương hại tới chủ quyền lãnh thổ, quốc gia trong quan hệ với nước ngoài như hai chính thể Việt Nam vừa nói. “Việt Nam Cộng Hòa” cũng là chính thể được thiết lập thông qua các thiết chế dân chủ, mặc dù còn nhiều khiếm khuyết, nhưng tính chất dân chủ cao hơn hẳn hai chính thể vừa đối chiếu. Đặc biệt “Việt Nam Cộng Hòa” đã tôn trọng nhiều quyền tự do chính trị, tự do dân sự của người dân. Ở “Việt Nam Cộng Hòa” cách đây hơn 40 năm, người dân đã có quyền ra báo tư nhân, quyền thành lập đảng chính trị đối lập, quyền xuống đường biểu tình, v.v. - tất cả những quyền này đều thiếu vắng ngay trong chính thể hiện nay: “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

Như vậy “Việt Nam Cộng Hòa” so với chính thể Việt Nam hiện tại rõ ràng là một biểu tượng của văn minh, dân chủ, nhân bản.

Nhìn như thế ắt hẳn chúng ta phải cảm thấy chia sẻ, thương cảm và ngậm ngùi cho “Việt Nam Cộng Hòa”, cũng như cho tất cả mọi người Việt Nam, kể cả các đảng viên Cộng sản, bởi một chính thể nhân bản hơn, dân chủ hơn và có trách nhiệm hơn đối với lãnh thổ quốc gia đã không thể tồn tại. Nhìn như thế, dù chúng ta có thể sợ vì vẫn coi là một “húy kỵ”, chúng ta không thể nào hắt hủi, ghẻ lạnh với “Việt Nam Cộng Hòa”.

Nhưng không chỉ không ghẻ lạnh và không hắt hủi, nhóm thanh niên “Quân lực Việt Nam Cộng Hòa” trong cuộc tuần hành hôm 12/4 vừa qua còn biểu tỏ sự liên đới một cách công khai nhưng điềm đạm và rất chừng mực. Đặc biệt, các thanh niên đó còn ở độ tuổi trên dưới 30, tức được sinh ra cách khá xa “Việt Nam Cộng Hòa” và hình như tất cả đều sinh trưởng tại miền Bắc.

Tôi cho rằng đó là một hiện tượng rất đáng chú ý trong giới trẻ, những người thường bị coi là thiếu ý thức xã hội hay ít quan tâm tới chính trị. Theo tôi, rất có thể những thanh niên đó đã thấu hiểu sự thật lịch sử và có ý thức rõ trong việc mạo hiểm tôn vinh những giá trị cao đẹp đã mất đang bị coi là “húy kỵ”. Những khuôn mặt nghiêm nghị, trầm tư, tự tin khi tuần hành của các bạn đó có thể là biểu hiện của tự nhận thức rõ sự nghiêm trọng trong những việc họ đang làm. Hoặc họ là những người trẻ sáng tạo và táo bạo trong việc thức tỉnh dân chúng về một vấn đề quan trọng của lịch sử đang bị che giấu và rất liên quan tới nền tảng tiến bộ của xã hội: Thể chế chính trị.

Nhưng dù sự thật thế nào, việc dám xiển dương “Việt Nam Cộng Hòa” ngay giữa thủ đô Hà Nội trong những ngày tháng Tư này bằng một thái độ công khai, ôn hòa, chững chạc như thế cũng là một sáng tạo dũng cảm đàng hoàng của tuổi trẻ rất cần được ghi nhận.

Tôi tin những thanh niên đó chắc cũng đã phải dự tính nhiều người hiện nay sẽ không đồng tình với họ. Nhưng chắc họ cũng sẽ thông cảm với những người đó vì đa phần là do thói quen cố hữu cứ ôm lấy những “húy kỵ” lẽ ra đã phải bỏ hoặc chưa tự tìm hiểu thêm lịch sử mà thôi. Chắc họ cũng phải nghĩ và tự động viên bản thân rằng: Có cái tiến bộ hay thúc đẩy tiến bộ nào không có tính “khác” và “trước” so với số đông?

Nhìn kỹ hơn chúng ta sẽ thấy vấn đề lại có tính trớ trêu nực cười cho xã hội ta, khi một Ủy viên Bộ Chính trị, một ông Thủ tướng cộng sản gộc (có thể sẽ thành Tổng bí thư) đã công khai làm thông gia với “Việt Nam Cộng Hòa” từ lâu rồi mà người dân lại vẫn e sợ, húy kỵ “Việt Nam Cộng Hòa”. Khi cả hệ thống chính trị “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” đang vận động để được mua các loại vũ khí tối tân của Hoa Kỳ - đồng minh cũ của “Việt Nam Cộng Hòa” - mà người dân lại vẫn phát hoảng khi nghe tới “Quân lực Việt Nam Cộng Hòa”. Có lẽ, một trong những hệ lụy nặng nhất từ một chế độ toàn trị không phải là sợ hãi hay độc đoán mà chính là sự chai lỳ về tư duy. Và chẳng phải xã hội ta đã tiến lên được nhiều bước là do đã nỗ lực phá đi được những húy kỵ như “khoán ruộng”, “sản xuất tư nhân”, “buôn bán tư nhân”, “nghe đài địch”, “chơi với tư bản”, v.v.?

Nhưng lại vẫn còn một giả thuyết khác, trong giới trẻ và xã hội hiện nay đã có nhiều người nhận thức đúng về “Việt Nam Cộng Hòa” nhưng vẫn ngại chưa dám bày tỏ như nhóm “Quân lực VNCH”.

Nhìn cả hai mặt như thế chúng ta sẽ càng thấy rõ hơn ý nghĩa xã hội của nhóm “Quân lực VNCH”.

Nếu tôi không nhầm, hầu hết tất cả những người đã dấn thân vào các hoạt động cho cộng đồng nhưng ngược với ý muốn của chính quyền đều đã ít nhất một lần phải nghe người khác “khuyên răn” với những lý luận tương tự, “quá nhanh”, “quá xa”, “quá mạnh”, “gây mất an ninh”, “mất ổn định”, “phá hoại hạnh phúc, tương lai” của người này, người kia.

Do đó nhà báo Đoan Trang cáo buộc nhóm “Quân lực VNCH” “đã đi quá xa” là không thỏa đáng. Và cho rằng họ có nguy cơ làm “vùi dập” [sic] những mầm xanh tuổi trẻ khác là một suy nghĩ không đúng và quá nặng.

(còn một phần)


Thứ Ba, 14 tháng 4, 2015

Nhà báo Đoan Trang và “Quân lực Việt Nam Cộng hòa” (1)


Phạm Hồng Sơn


Nhà báo Đoan Trang

Trong cuộc tuần hành vì cây xanh sáng Chủ nhật 12/4 vừa qua tại Hà Nội có một sự kiện rất đáng chú ý và đã gây tranh cãi. Đó là sự xuất hiện của một nhóm 4, 5 thanh niên nam trẻ với tên gọi nhóm “Quân lực Việt Nam Cộng Hòa” (tên này tạm gọi, chưa chắc đã đúng) trên không gian mạng. 

Căn cứ vào những hình ảnh và phản ánh quan trọng đã có trên mạng, nhóm “Quân lực VNCH” hôm đó là những người tuần hành ôn hòa, có phần hơi nghiêm nghị, và như những người tuần hành ôn hòa khác họ cũng bày tỏ một thông điệp rõ ràng với những khẩu hiệu trên tay vì cây xanh. Điểm khác biệt quan trọng nhất của họ đối với những người khác là họ cùng mặc áo thun đen với logo trên ngực trái hình chim ưng (ó) cách điệu khá nhỏ màu vàng và sau lưng là hai dòng chữ tiếng Anh có nghĩa: “Nhân dân không nên sợ hãi chính quyền”, “Chính quyền cần phải sợ nhân dân. Nhưng gần như ngay tức khắc đã có những ý kiến bày tỏ “không liên quan”, phản đối sự tham dự của nhóm “Quân lực VNCH”, điển hình là bài viết của nhà báo Đoan Trang.

Đọc kỹ bài viết của nhà báo, nhà hoạt động Đoan Trang tôi thấy luận điểm chính của bài viết (không hoan nghênh nhóm “Quân lực VNCH”) không được đặt trên những cơ sở về pháp luật, về tinh thần dân chủ đa nguyên và cả về công tác tổ chức.

Nhà báo Đoan Trang viết: “Các bạn “Quân lực VNCH” nên ghi nhận là công an đã không bắt các bạn ngay trong lúc tuần hành...” Thật nguy hiểm cho tinh thần pháp luật và an ninh của đời sống con người, nếu một công dân không hề có hành vi (thái độ và hành động) vi phạm pháp luật lại phải ghi nhận, chắc nhà báo Đoan Trang viết với ý phải cảm ơn (như phiên bản ban đầu), rằng mình đã không bị nhà chức trách bắt giữ. Phải chăng vì quá chú tâm tới sự kiện cây xanh hay hoạt động của mình, nhà báo Đoan Trang đã quên mất những nhân quyền cơ bản (của người khác)?

Về phương diện tổ chức, kể cả là có tổ chức thật bài bản và qui củ, khi nhà tổ chức chưa đưa ra qui định hay khuyến cáo về trang phục, thông điệp thì không thể trách cứ người tham gia về những vấn đề đó, ngoại trừ các vấn đề gần như đã được đồng thuận phải tránh như kích động bạo lực, bạo lực, bất nhã. Nhưng kể cả trong trường hợp nhà tổ chức muốn qui định thì cũng không thể kiểm soát được tính đa dạng vô biên trong cách bày tỏ của con người.

Nhà báo Đoan Trang khuyến cáo: “...các bạn có thể tự tổ chức một sự kiện khác cho riêng các bạn, vào thời gian, địa điểm khác, với nhân sự khác, và không góp mặt trong sự kiện mà tại đó bạn không được đón nhận.” Câu này cho tôi một cảm nhận dường như nhiều người trong chúng ta chưa nhận thấy không gian bày tỏ trên đất nước chúng ta đã quá chật hẹp suốt hơn nửa thế kỷ qua vì một thể chế chính trị lạc hậu nên đôi khi lại vô tình chặn bớt không gian bày tỏ của người khác. Một không gian công cộng, trừ trường hợp có qui định đặc biệt, vẫn là một không gian công cộng dù là nơi đang xảy ra tuần hành hay biểu tình. Chúng ta có thể độc quyền về thông điệp tuần hành nhưng không nên và không thể độc quyền về không gian bày tỏ công cộng và quyền bày tỏ, trừ khi chúng ta nắm quyền lực độc tài.

Nhà báo Đoan Trang cho rằng nhà chức trách “có thể lấy cớ cờ 'vàng xuất hiện'” để dẹp tuần hành, theo tôi đây là một suy diễn không vững và không thực tế. Theo tôi, nếu cần dẹp bất kỳ cuộc tuần hành nào, nhà chức trách hiện nay không nhất thiết phải dựa vào những lý do như thế. Chúng ta chẳng phải đã chứng kiến nhiều lần cả “cờ đỏ” lẫn “Bác Hồ” đều bị lực lượng chức năng quăng xuống đất để dồn phá người biểu tình? Hơn nữa, nếu điều đó xảy ra lỗi vẫn hoàn toàn thuộc về một chính quyền chưa biết tôn trọng quyền dân. Và tại sao chúng ta không nghĩ ngược lại, đó chính là cơ hội giúp khơi lên một dư luận quan tâm tới tinh thần pháp luật và tinh thần hòa giải dân tộc và hóa giải xung đột giữa hai chế độ Việt Nam (Cộng sản và Cộng hòa)?

Cuối bài viết nhà báo Đoan Trang cho rằng những bạn trẻ “Quân lực VNCH” "đã đi quá xa" [sic] rất có thể làm ảnh hưởng không tốt hoặc gây nguy hại tới những người có “tinh thần cộng đồng và trách nhiệm xã hội”. Nhưng tôi lại nghĩ hoàn toàn khác.

(còn tiếp)


Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Luật Hiến pháp và Chính trị học (20)

Xem các phần: (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14), (15), (16), (17), (18), (19)

Nguyễn Văn Bông

CHƯƠNG IIINỀN ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA

Mục IV: QUYỀN TƯ PHÁP
Theo điều 76 Hiến pháp, quyền Tư pháp, độc lập được ủy nhiệm cho Tối cao Pháp viện và hành xử bởi các Thẩm phán xử án.
Đoạn 1: VẤN ĐỀ BẢO VỆ SỰ ĐỘC LẬP CỦA THẨM PHÁN XỬ ÁN
Một trong những đặc điểm của nhà lập hiến khi bàn về ngành Tư pháp là nâng Tư pháp ngang hàng hai công quyền Lập pháp và Hành pháp. Hiến pháp 1967 đã ghi Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp vào chung một điều khoản khi chấp thuận nguyên tắc phân nhiệm, phân quyền và điều hòa hoạt động, đồng thời minh thị xác nhận nguyên tắc thiết lập hai quy chế riêng cho hai ngành thẩm phán xử án và thẩm phán công tố.
Sự phân biệt hai ngạch này từ nay khoát hiến tính. Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm và pháp luật, dưới sự kiểm soát của Tối cao Pháp viện. Như thế Hành pháp không còn chi phối được ngành Tư pháp bằng cách hoán chuyển như giao chức vụ cho thẩm phán công tố sẵn sàng theo mệnh lệnh của chính phủ và đưa vào công tố viện những thẩm phán cương trực.
Hơn nữa, một Hội đồng Thẩm phán sẽ được thiết lập gồm các thẩm phán xử án do các thẩm phán bầu, có nhiệm vụ:

·         Đề nghị bổ nhiệm, thăng thưởng, thuyên chuyển và chế tài kỉ luật các thẩm phán xử án;
·         Cố vấn Tối cao Pháp viện về các vấn đề liên quan đến ngành Tư pháp.
Như vậy, với sự hiện diện của Hội đồng Thẩm phán, Hành pháp không còn có thể dùng sự thuyên chuyển hoặc thăng thưởng để uy hiếp hay mua chuộc thẩm phán.

Đoạn 2: TỐI CAO PHÁP VIỆN
Tối cao Pháp viện, cơ quan tài phán cao nhất, được ủy nhiệm quyền Tư pháp độc lập. Điều 80 Hiến pháp và Luật số 007/68 ngày 3-9-68 quy định sự tổ chức và điều hành Tối cao Pháp viện.
I. Thành phần
Tối cao Pháp viện gồm 15 Thẩm phán do Quốc hội tuyển chọn và Tổng thống bổ nhiệm căn cứ trên danh sách 30 người do cử tri đoàn gồm Thẩm phán xử án, công tố và Luật sư bầu ra.
Nhiệm kì của Thẩm phán Tối cao Pháp viện là 6 năm và cứ 3 năm sẽ bầu lại 6 hay 9 Thẩm phán mãn nhiệm kì. Tuy nhiên trong giai đoạn đầu, Tối cao Pháp viện chỉ gồm có 9 Thẩm phán, 6 người nữa sẽ được bầu 3 năm sau.
A. Các điều kiện ứng cử, bầu cử và tuyển chọn Thẩm phán Tối cao Pháp viện

1. Ứng cử
Các Thẩm phán xử án, công tố và các Luật sư hội đủ những điều kiện quy định trong điều 5 được quyền ứng tuyển Thẩm phán Tối cao Pháp viện.
Có 6 điều kiện về quốc tịch, về thời gian hành nghề (10 năm), về tư cách (không bị án phạt về đại hình, tiểu hình, kỉ luật), về chính kiến và về tình trạng quân dịch.
Hồ sơ ứng tuyển phải nạp tại Hội đồng tổ chức bầu cử chậm nhất là 1 tháng trước ngày bầu cử. Hội đồng tổ chức bầu cử này do Chủ tịch Thượng Viện làm Chủ tịch gồm Chủ tịch Hạ Viện, 1 dân biểu, 1 nghị sĩ, 1 Thẩm phán xử án, 1 công tố và 1 Luật sư có nhiệm vụ tổ chức và giải quyết các vấn đề liên quan đến cuộc bầu cử như cứu xét các đơn khiếu nại v.v… Hội đồng còn có thể quyết định với đa số 5/7 tổng số hội viên, hủy bỏ cuộc bầu cử nếu thấy có sự bất hợp lệ quan trọng làm sai lạc tính cách thành thật và kết quả bầu cử.
2. Bầu cử
Cử tri đoàn gồm 50 Thẩm phán xử án, 50 Thẩm phán công tố và 50 Luật sư được các đoàn thể của họ bầu ra theo thể thức liên danh đa số.
Các Thẩm phán Tối cao Pháp viện được bầu theo thể thức đơn danh, hợp tuyển, trực tiếp và kín.
Mỗi cử tri có quyền bầu tối đa 30 người (mỗi thành phần 10 ứng tuyển viên).
Ba mươi ứng tuyển viên theo tỉ lệ mỗi thành phần 1/3 – được nhiều phiếu nhất sẽ trúng cử ứng tuyển viên Thẩm phán Tối cao Pháp viện.
3. Tuyển chọn
Trong thời hạn 24 giờ sau khi công bố kết quả, Hội đồng tổ chức bầu cử phải gửi danh sách cùng hồ sơ 30 ứng tuyển viên đắc cử đến Văn phòng Thượng viện và Hạ viện.
Một phiên họp khoáng đại lưỡng viện sẽ được triệu tập và sẽ họp kín để tuyển chọn trong số 30 ứng tuyển viên đắc cử 9 hay 6 Thẩm phán Tối cao Pháp viện bằng 1 cuộc bỏ phiếu kín.
4. Bổ nhiệm
Tổng thống sẽ bổ nhiệm các Thẩm phán Tối cao Pháp viện này theo danh sách do Chủ tịch Thượng Nghị viện chuyển đến.
Trong pháp nhiệm đầu tiên, 9 vị có tên sau đây được bổ nhiệm Thẩm phán Tối cao Pháp viện: Trần Văn Linh, Nguyễn Văn Biện, Trần Minh Triết, Mai Văn An, Trần Văn Liêm, Nguyễn Văn Sĩ, Trịnh Xuân Ngạn, Nguyễn Mộng Bích, Nguyễn An Thông.
Vấn đề bầu cử phức tạp thẩm phán Tối cao Pháp viện là hậu quả của một thái độ của nhà lập hiến không những luôn luôn chống đối nguyên tắc bất khả bãi nhiệm mà còn quan niệm rằng uy thế cũng như sự độc lập của thẩm phán phải được sự ủy quyền gián tiếp của quốc dân qua sự tuyển chọn bởi Quốc hội.
Mặc dù kết quả cuộc tuyển chọn thành phần Tối cao Pháp viện nhiệm kì đầu tiên được xem là khả quan, chúng ta vẫn e ngại rằng trong tương lai, với những cuộc bầu cử tới, chính trị sẽ xen mạnh vào pháp đình và làm mất hẳn tính cách độc lập của ngành Tư pháp.

B. Quy chế Thẩm phán Tối cao Pháp viện
Các Thẩm phán TCPV phải tuyên thệ trước Lập pháp và Hành pháp trước khi nhậm chức.
Các vị Thẩm phán này không được kiêm nhiệm một chức vụ công cử hay dân cử ngoại trừ việc giảng huấn tại Đại Học, nhưng sẽ được quy hồi ngạch cũ nếu là Thẩm phán khi hết nhiệm kì.
Thẩm phán TCPV cũng như người phối ngẫu không được dự vào những cuộc đấu thầu hay kí hợp đồng với cơ quan công quyền.
Ngoài ra, nếu hành nghề luật sư, người phối ngẫu này sẽ không được biện hộ trước TCPV.
Các Thẩm phán TCPV có thể bị chấm dứt nhiệm vụ vì 4 lí do ngoài lí do mãn nhiệm kì:
·         Chết;
·         Từ chức;
·         Bất lực về tinh thần hay thể chất;
·         Bị truất quyền vì can trọng tội (điều 60).
Nếu có trường hợp khiếm khuyết một hay nhiều Thẩm phán TCPV, vị Chủ tịch sẽ thông báo cho Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện, Hạ viện, Quốc hội có 30 ngày để tuyển chọn người thay thế theo thủ tục ấn định ở Tiết 6 Chương II (điều 58).
Như vậy điều 58 Luật số 7/68 quy định một điểm đặc biệt là Lập pháp có toàn quyền tuyển chọn người thay thế các vị Thẩm phán TCPV đã bị chấm dứt nhiệm vụ vì 4 lí do trên mà khỏi qua giai đoạn bầu cử đầu tiên.
Trong suốt thời gian hành nhiệm, Thẩm phán TCPV được hưởng các đặc miễn như không thể bị truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử vì những ý kiến và biểu quyết của họ.
Các vị Thẩm phán TCPV chỉ có thể bị truy tố, bắt giam trong 2 trường hợp:

1.     Nếu có sự chấp thuận của 2/3 tổng số Thẩm phán TCPV;
2.     Nếu phạm tội quả tang. Trong trường hợp này, sự truy tố hay bắt giam cũng được đình chỉ nếu có sự yêu cầu của 2/3 Thẩm phán TCPV.

II. Tổ chức Tối cao Pháp viện
Cơ cấu Tối cao Pháp viện gồm:
·         Đại Hội đồng;
·         Văn phòng;
·         Ban Bảo hiến;
·         Ban Phá án.
Ngoài ra Tối cao Pháp viện còn có 1 khối chuyên viên, Nha Tổng Thư kí và các cơ quan trực thuộc.
a. Đại Hội đồng gồm toàn thể Thẩm phán Tối cao Pháp viện có nhiệm vụ:
·         Quản trị ngành Thẩm phán xử án, các Tòa án và nhân viên trực thuộc;
·         Giải thích Hiến pháp và kiểm soát tính cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật cùng tính cách hợp hiến và hợp pháp của các sắc lệnh, nghị định và các quyết định Hành chính;
·         Kiểm soát chủ trương và hành động các chính đảng;
·         Soạn thảo nội quy và quản trị Tối cao Pháp viện cùng giải quyết các vấn đề nội như bầu cử văn phòng v.v…
Ngoài ra Đại Hội đồng Tối cao Pháp viện còn có nhiệm vụ quyết định đình chỉ truy tố hay bắt giam một Thẩm phán Tối cao Pháp viện trong trường hợp quả tang phạm pháp hay giải nhiệm vì lí do bất lực
Cũng như Quốc hội và Tổng thống, Đại Hội đồng Tối cao Pháp viện cũng có quyền chỉ định 1/3 tổng số Giám sát Viện.
Sau hết, việc kiểm kê tài sản của Chủ tịch Giám sát Viện và các Giám sát Viện cùng phụ trách việc lập danh sách ứng cử viên Tổng thống và Phó Tổng thống, kiểm soát cuộc bầu cử và tuyên bố kết quả.
b. Ban Bảo hiến: có nhiệm vụ thuyết trình trước Đại Hội đồng về việc giải thích Hiến pháp, tính cách hợp hiến hay không của các đạo luật, sắc luật, sắc lệnh. Nghị định, quyết định hành chính và việc giải tán một chính đảng.
c. Ban Phá án: gồm 3 phòng:
·         Phòng Hộ vụ;
·         Phòng Hình vụ và
·         Phòng Hành chính.
Cả 3 phòng này tùy theo tính chất nội vụ mà phân chia thẩm quyền giữa các phòng, xét những vụ xin tiêu phá và phân định thẩm quyền giữa các cơ quan tài phán.
Và một viện chưởng lí trực thuộc Bộ Tư pháp hành xử công tố quyền.
III. Thẩm quyền
Điều 2 Luật số 07/68 quy định thẩm quyền Tối cao Pháp viện, chúng ta có thể phân biệt:
·         Thẩm quyền Bảo hiến: Giải thích Hiến pháp cùng với hiến tính các đạo luật, sắc luật tính cách hợp hiến và hợp pháp sắc luật, nghị định và quyết định hành chính: giải tán một chính đảng có chủ trương và hành động chống lại chính thể Cộng hòa;
·         Thẩm quyền về Tư pháp: xét các vụ xin tiêu phá, các bản án chung thẩm của mọi Tòa án, xét các đơn xin tái thẩm và phân định thẩm quyền giữa các cơ quan tài phán;
·         Thẩm quyền về Hành chính: Quản trị ngành Tư pháp, kiểm kê tài sản Chủ tịch Giám sát Viện và các Giám sát Viện, lập danh sách ứng cử viên Tổng thống và Phó Tổng thống, kiểm soát tính cách hợp thức của cuộc bầu cử và tuyên bố kết quả, chứng kiến lễ tuyên thệ nhậm chức của Tổng thống đắc cử và chỉ định 1/3 tổng số Giám sát Viện.
A. Về thủ tục tố tụng ấn định ở chương V gồm 18 điều khoản có 3 loại:
1. Thủ tục Bảo hiến

Phương cách chính tố: Điều 63 quy định mọi thể nhân hay pháp nhân Tư pháp hay công pháp đều có quyền, bằng phương cách chính tố xin Tối cao Pháp viện phán quyết về tính cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật hoặc tính cách hợp hiến và hợp pháp của các sắc lệnh, nghị định và quyết định hành chính nếu chứng minh được lợi ích để khởi tố trừ các pháp nhân công pháp.
Đơn khởi tố phải viện dẫn lí do và nạp tại Nha Tổng Thư kí Tối cao Pháp viện, kèm theo biên lai đóng tiền dự phạt 5000đ. Tiền dự phạt sẽ được hoàn lại nếu đơn được chấp thuận.
Phương cách khước biện: Ngoài ra, trong mọi vụ kiện, bất kỳ ở giai đoạn nào, kể cả giai đoạn phá án, đương tụng có thể bằng phương cách khước biện, xin Tối cao Pháp viện phán quyết về hiến tính của các đạo luật, sắc luật hoặc tính cách hợp hiến và hợp pháp của các sắc lệnh, nghị định và quyền quyết định hành chính.
Đơn khước biện có nêu rõ lí do, kèm theo biên lai đóng tiền dự phạt 5000đ, phải do đương sự đích thân hoặc do luật sư thay mặt nạp trong phiên xử của Tòa án đang thụ lí vụ kiện. Tòa án phải quyết định ngay trong phiên xử này, sau khi nghe công tố viện kết luận, hoặc chấp nhận nạp trình khước biện lên Tối cao Pháp viện hoặc từ khước, nếu xét những lí do nại dẫn hiển nhiên không xác đáng.
Quyết định từ khước sẽ phải thông báo ngay trong phiên Tòa cho đương sự hay cho Luật sư thay mặt đương sự. Đương sự có quyền khiếu nại trong hạn 7 ngày. Chánh Lục sự Tòa thụ lí phải đánh dấu trên đơn khiếu nại ngày tháng tiếp nhận và kí tên chứng thật cùng lập biên bản về sự tiếp nhận này.
Trong hạn 7 ngày sau khi có quyết định chấp nhận nạp trình khước biện hoặc sau khi nhận đơn khiếu nại, Tòa án thụ lí phải chuyển hồ sơ và biên lai tiền dự phạt lên Tối cao Pháp viện và hoãn xử chánh vụ cho tới khi có phán quyết của Tối cao Pháp viện.
Chủ tịch Tối cao Pháp viện phải giao hồ sơ cho Ban Bảo hiến đồng thời thông tư đơn khởi tố hay khước biện trạng cho Viện Chưởng lí và cho bị đơn.
Thời hạn đệ trình biện minh và kháng biện luận cho 2 bên nguyên và bị đơn do Chủ tịch ấn định tùy trường hợp.
Viện Chưởng lí có thời hạn 2 tháng để nạp kết luận trạng.
Tất cả các kết luận trạng, biện minh trạng và kháng biện phải được thông tư cho các đương sự trong vụ án.
Chủ tịch Tối cao Pháp viện sẽ ấn định ngày giờ trong một phiên xử công khai của Đại Hội đồng và thông báo cho các nguyên và bị đơn cùng Viện Chưởng lí.
Trong phiên xử công khai này Chủ tịch, trong khi kiểm điểm thành phần hợp lệ, trao lời cho thuyết trình viên, mở cuộc thẩm vấn và lần lượt trao lời cho nguyên đơn, Viện Chưởng lí và bị đơn.
Sau đó Đại Hội đồng sẽ nghị án trong phòng thẩm nghị và phán quyết có viện dẫn lí do sẽ được tuyên đọc trong phiên tòa công khai.
2. Thủ tục giải thích Hiến pháp
Tổng thống, Chủ tịch Thượng Nghị viện, Chủ tịch Hạ Nghị viện, một phần ba (1/3) tổng số Nghị sĩ, hoặc 1/3 tổng số Dân Biểu có quyền xin Tối cao Pháp viện giải thích Hiến pháp hay phán quyết về việc giải tán một chính đảng có chủ trương và hành động chống lại chính thể Cộng hòa.
Đại Hội đồng Tối cao Pháp viện phải phán quyết trong thời hạn tối đa 2 tháng kể từ ngày văn thư yêu cầu nạp tại Nha Tổng Thư kí Tối cao Pháp viện.
Trường hợp văn thư yêu cầu giải tán một chính đảng, Chủ tịch Tối cao Pháp viện phải thông báo cho chính bị đơn biết, để tham khảo hồ sơ, đệ nạp biện minh trạng và cử đại diện tới trình bày lí do trong phiên xử công khai. Đại diện của Lập pháp và Hành pháp có quyền tham dự để trình bày quan điểm của mình tại phiên xử này.
Phán quyết của Tối cao Pháp viện phải hội đủ đa số ¾ tổng số Thẩm phán tại chức. Các Thẩm phán phe thiểu số trong lúc biểu quyết có quyền yêu cầu ghi lập trường của mình ngay dưới bản án.
3. Thủ tục phá án
Các thủ tục thượng tố hiện áp dụng trước Tòa Phá án và Tham chánh Viện vẫn tạm thời được áp dụng trước các Phòng Hộ vụ, Hình vụ và Hành chính.
Điều 87 Luật 07/68 minh thị quy định rằng Tòa Phá án đình chỉ hoạt động ngay sau lễ tuyên thệ nhậm chức của các Thẩm phán Tối cao Pháp viện mà không nói gì đến việc bãi bỏ Tham chánh Viện.
Thật ra phần thẩm quyền của Tối cao Pháp viện bao gồm thẩm quyền của Viện Bảo hiến thời Đệ nhất Cộng Hòa, của Tòa Phá án và một phần thẩm quyền của Tham chánh Viện.
Thật vậy, phần thẩm quyền của Tham chánh Viện đi giao cho Tối cao Pháp viện được phân chia cho Ban Bảo Hiến về việc xét tính cách hợp pháp hay bất hợp pháp của các sắc lệnh nghị định và các quyết định Hành chính – và cho phòng Hành chính của Ban Phá Án, việc xin tiêu phá các bản án hành chính.
Ngoài ra thẩm quyền của Tham chánh Viện còn bao gồm việc phúc thẩm các bản án do Tòa Hành chính xử sơ thẩm.
·         Việc xử sơ thẩm và chung thẩm mọi vụ tranh tụng liên quan đến tình trạng Hành chính của các công chức ngạch A;
·         Việc xét xử một vài loại tranh tụng đặc biệt về những vụ liên quan đến việc bầu cử vào các hội đồng y sĩ, nha sĩ, dược sĩ, hộ sinh, hoặc xét các đơn kháng cáo các quyết nghị của các hội đồng trên, hay của Hội đồng kỉ luật v.v…
Luật số 07/68 không nói gì đến các thẩm quyền trên cũng như thẩm quyền cố vấn, thẩm quyền dự pháp của Tham chánh Viện.
Có lẽ Tòa Hành chính sẽ được cải tổ theo 2 chiều hướng.
Thứ nhất: Tòa Hành chính sẽ được giao thêm cho các thẩm quyền nói trên của Tham chánh Viện và sẽ xét xử sơ và chung thẩm tất các vụ.
Thứ hai: Tòa Hành chính cũng có thể được sáp nhập vào hệ thống Tư pháp và trở thành 1 ban Hành chính bên cạnh ban hộ vụ và ban hình sự của các Tòa án Tư pháp.
B. Các phán quyết giải thích Hiến pháp, tuyên phán bất hợp hiến các đạo luật, sắc luật, nghị định hay quyết định hành chính và các phán quyết giải tán một chính đảng có hiệu lực tuyệt đối và phải đăng vào công báo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các phán quyết này có hiệu lực đình chỉ thi hành các điều khoản bất hợp hiến hay bất hợp pháp của các văn kiện Lập pháp lập quy và các quyết định hành chính kể từ ngày đăng trên công báo.
Phán quyết giải tán một chính đảng có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Các phán quyết bác đơn khởi tố và khước biện chỉ có hiệu lực tương đối mà thôi.

Mục V: CÁC ĐỊNH CHẾ ĐẶC BIỆT
Dưới tiêu đề “Các định chế đặc biệt”, trọn chương 6 Hiến pháp đề cập đến Đặc biệt Pháp viện, Giám sát Viện và một số Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn như Hội đồng Quân lực, Hội đồng Văn hóa Giáo dục, Hội đồng Kinh tế Xã hội và Hội đồng các Sắc tộc
Đoạn 1: ĐẶC BIỆT PHÁP VIỆN
Đặc biệt Pháp viện là cơ quan tài phán có thẩm quyền truất quyền Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, các Tổng Bộ trưởng, các Thẩm phán Tối cao Pháp viện và các Giám sát Viện trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội khác.
A. Tổ chức
Đặc biệt Pháp viện gồm 5 Dân biểu và 5 Nghị sĩ và do Chủ tịch Tối cao Pháp viện giữ chức Chánh thẩm.
Trong trường hợp chính Chủ tịch Tối cao Pháp viện là bị can, chức Chánh thẩm sẽ do Chủ tịch Thượng Nghị viện đảm nhiệm.
B. Điều hành
Quyền truy tố trước Đặc biệt Pháp viện thuộc thẩm quyền Quốc hội.
Đề nghị khởi tố đối với Tổng thống và Phó Tổng thống, có viện dẫn lí do, phải được 2/3 tổng số dân biểu và nghị sĩ kí tên. Quyết nghị khởi tố phải được đa số ¾ tổng số dân biểu và nghị sĩ chấp thuận. Đối với các nhân vật khác, đề nghị khởi tố chỉ cần được quá bán tổng số dân biểu và nghị sĩ kí tên và quyết nghị khởi tố được 2/3 tổng số dân biểu và nghị sĩ chấp thuận.
Quyết nghị khởi tố được Quốc hội chấp thuận có hiệu lực đình chỉ nhiệm vụ của đương sự cho đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết.
Đặc biệt Pháp viện phán quyết truất quyền theo đa số ¾ tổng số nhân viên. Riêng đối với Tổng thống và Phó Tổng thống, phán quyết truất quyền theo đa số 4/5 tổng số nhân viên.
Đoạn 2: GIÁM SÁT VIỆN
Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa ngày 1-4-1967 trong 4 điều 88, 89, 90, 91 quy định việc thành lập một Giám sát Viện có thẩm quyền rộng rãi và gần như biệt lập đối với các cơ quan Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp. Đạo luật số 9/68 ban hành ngày 23-10-1968 ấn định chi tiết về việc tổ chức và điều hành Giám sát Viện.
I. Thành phần Giám sát Viện
Giám sát Viện gồm 18 vị Giám sát một phần ba (1/3) do Quốc hội, 1/3 do Tổng thống và 1/3 do Tối cao Pháp viện chỉ định.
Có 5 điều kiện để có thể chỉ định vào Giám sát Viện gồm các điều kiện về tuổi (30) về quốc tịch, về thời gian cư ngụ trong nước, về tư cách, về tình trạng quân dịch.
Nhiệm kì các Giám sát Viện là 4 năm và có thể được tái chỉ định.
Nhiệm kì này có thể chấm dứt vì 5 lí do như mệnh chung, từ chức, bị truất quyền vì can trọng tội, bất lực về tinh thần hay vật chất và các vị Giám sát còn có thể bị Quốc hội, Tổng thống, hay Tối cao Pháp viện, giải nhiệm vì lí do bất lực trong công vụ hoặc liên can đến hành vi tham nhũng.
Các Giám sát được bổ nhiệm bằng sắc lệnh Tổng thống và phải tuyên thệ trong một phiên họp khoáng đại Lưỡng viện Quốc hội có sự hiện diện của Tổng thống và Chủ tịch Tối cao Pháp viện.
Sự tuyên thệ này ban cho các Giám sát tư cách Tư pháp cảnh lại trong phạm vi hành xử quyền giám sát.
Trong suốt thời gian hành nhiệm các vị Giám sát được hưởng các đặc miễn như không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử vì những biểu quyết của họ tại Hội đồng Giám sát Viện, nếu không có sự chấp thuận của 2/3 tổng số Dân biểu và Nghị sĩ.
Trong trường hợp quả tang phạm pháp việc truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử cũng được đình chỉ nếu có sự yêu cầu của quá bán tổng số Dân biểu và Nghị sĩ. Các vị Giám sát có quyền và có nhiệm vụ bảo mật về xuất xứ các tài liệu trình bày trước Hội đồng Giám sát Viện và chỉ có Hội đồng này mới có quyền hệ cấp đối với họ.
Các vị Giám sát cũng không thể kiêm nhiệm một chức vụ công cử hay dân cử nào ngoại trừ việc giảng huấn tại đại học.
II. Tổ chức Giám sát Viện
Giám sát Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập quy để tổ chức nội bộ và quản trị ngành Giám sát.
Giám sát Viện gồm 3 cơ quan chính:
1. Quyền chỉ đạo Giám sát Viện thuộc một Hội đồng gồm toàn thể các Giám sát  có nhiệm vụ quản trị ngành Giám sát, soạn thảo nội quy, lập chương trình hoạt động, biểu quyết Ngân sách của Viện cùng quyết định về trường hợp bất lực tinh thần hay thể chất của các Giám sát. Ngoài ra Hội đồng căn cứ xét và quyết định các biện pháp chế tài đối với chức phạm lỗi, và quyết định việc công bố kết quả các cuộc điều tra trừ trường hợp chính người bị điều tra xin công bố kết quả.
Hội đồng Giám sát Viện họp mỗi tháng 1 kỳ hoặc khi có 1/3 Giám sát yêu cầu.
2. Văn phòng Giám sát Viện do Hội đồng bầu ra gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, hai trưởng ban chuyên biệt là Chủ tịch Ủy ban Thẩm tra, Kiểm kê tài sản và một Tổng Thư kí. Văn phòng này chấp hành các quyết nghị của Hội đồng và tổ chức các phòng dân ý tại Trung ương và Địa phương.

3. Các Ban Chuyên biệt Trung ương và các khu Giám sát địa phương
a. Ban Điều tra, kiểm tra gồm một Chủ tịch và 5 ủy viên do Hội đồng Giám sát Viện chỉ định.
b. Ban Thẩm kê kế toán và Kiểm kê tài sản gồm một Chủ tịch và 4 ủy viên do Hội đồng Giám sát chỉ định.
Hai Ban chuyên biệt Trung ương này đảm nhiệm trọng trách thi hành 5 nhiệm vụ chính của Giám sát Viện ấn định trong điều 1 luật số 9/68.
c. Các khu Giám sát địa phương:
Nội quy Giám sát chia nhân viên làm 4 khu Giám sát địa phương.
Khu Giám sát I gồm: Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Tín, Quảng Trị và Thừa Thiên.
Khu Giám sát II: Đà Lạt, Cam Ranh, Bình Định, Bình Thuận, Darlac, Khánh Hòa, Kontum, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Phú Yên, Phu Bổn, Phi Ru, Quảng Đức, Tuyên Đức.
Khu Giám sát III: Vũng Tàu, Biên Hòa, Bình Dương, Bình Long, Bình Tuy, Hậu Nghĩa, Long An, Long Khánh, Phước Long, Phước Tuy, Tây Ninh và Gia Định.
Khu Giám sát 4: An Giang, An Xuyên, Ba Xuyên, Bạc Liêu, Châu Đốc, Chương Thiện, Định Tường, Gò Công, Kiến Hòa, Kiến Phong, Kiến Tương, Phong Dinh, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Sa Đéc.
Mỗi khu Giám sát đặt dưới quyền một Đặc ủy Giám sát do Hội đồng bầu ra.
d. Nhiệm vụ của vị Đặc ủy Giám sát là:
Kiểm soát nhân viên các cơ quan công quyền, đề nghị mở các cuộc điều tra, tổ chức phòng dân ý, đề nghị và phối hợp với các vị Giám sát khác để mở cuộc thanh tra, điều tra và kiểm soát kế toán.
e. Thanh tra đoàn đặt dưới quyền điều động của Giám sát Viện, có nhiệm vụ phụ tá các vị Giám sát trong việc hành xử nhiệm vụ Giám sát.
III. Thẩm quyền và nhiệm vụ của Giám sát Viện
Điều 1 luật số 9/68 lập lại điều 88, 69, Hiến pháp, ấn định 5 thẩm quyền và nhiệm vụ của Giám sát Viện như sau:
·         Thanh tra, Kiểm soát và điều tra mọi hành vi tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế hoặc phương hại đến quyền lợi quốc gia của các nhân viên cơ quan công quyền và các tư nhân đồng phạm hay tòng phạm;
·         Thẩm tra kế toán đối với các cơ quan công quyền và các xí nghiệp quốc doanh và hợp doanh;
·         Kiểm kê tài sản các công chức kể cả Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, Nghị sĩ, Dân biểu và Chủ tịch Tối cao Pháp viện;
·         Đề nghị biện pháp chế tài về kỉ luật đối với nhân viên công quyền phạm lỗi, hoặc yêu cầu truy tố đương sự trước Tòa án;
·         Đề nghị các biện pháp cải thiện lề lối làm việc để ngăn ngừa tham nhũng đầu cơ, hối mại quyền thế.

IV. Thủ tục Giám sát
Để đảm bảo quyền tự do cá nhân của các người bị điều tra cùng giúp các vị Giám sát hoàn tất nhiệm vụ khó khăn của mình, Luật số 9/68 đã ấn định thủ tục Giám sát Viện sau đây:
Giám sát Viện có quyền tự động và bất thần mở những cuộc thanh tra điều tra hay kiểm soát kế toán nhưng phải giao cho ít nhất hai vị giám sát thuộc thành phần khác nhau thực hiện.
Quyền hạn các vị giám sát khi thi hành nhiệm vụ rất rộng rãi. Thật vậy các Giám sát ngoài tư cách Tư pháp cảnh lại cao cấp còn có quyền thanh sát mọi cơ quan công quyền, xí nghiệp quốc doanh và hợp doanh, kiểm soát ngân khoản, trương mục hoặc đòi xuất trình sổ sách, hồ sơ thường và mật liên quan đến cuộc điều tra.
Hơn nữa, các Giám sát còn được sự trợ giúp của các Giám định viện, chuyên viên, nhân viên công lực, vị chỉ huy cơ quan bị điều tra và Biện lí cuộc sở tại để ra lệnh dẫn giải các đương can, tòng phạm, đồng phạm hay nhân chứng từ chối không đến trình diện để lấy lời khai.
Tuy nhiên các Giám sát không có quyền đình chỉ hoạt động các cơ quan hay xí nghiệp bị điều tra mà chỉ có thể tạm ngưng chức các nhân viên bị điều tra nhưng quyết định tạm ngưng chức này phải có sự đồng ý của đa số quá bán các giám sát điều tra.
Trong trường hợp phạm pháp quả tang hay có bằng chứng hiển nhiên các người phạm pháp có thể bị Biện lí tạm câu lưu nếu có sự chấp thuận của tất cả các Giám sát điều tra.
Lệnh tạm ngưng chức hay tạm câu lưu phải thông báo cho vị chỉ huy cơ quan liên hệ và trong 24 giờ phải phúc trình lên văn phòng Giám sát Viện. Hội đồng Giám sát Viện có thời hạn 7 ngày để phúc quyết kể từ ngày các lệnh trên được thi hành.
Các Giám sát có hạn 3 (ba) ngày tròn để phúc trình tổng kết nội vụ chậm nhất là 7 ngày sau sẽ thuyết trình trước Hội đồng để Hội đồng thảo luận cùng biểu quyết các biện pháp áp dụng.
Trong trường hợp chế tài về kỉ luật, cơ quan liên hệ không phải triệu tập Hội đồng Kỉ luật nhưng có thể đề nghị biện pháp chế tài khác. Hội đồng Viện sẽ họp và thảo luận về đề nghị này trong thời hạn 7 ngày tròn, quyết định này của Hội đồng có hiệu lực cưỡng hành đối với các quyết định chế tài về hình sự, Chủ tịch sẽ chuyển hồ sơ cho công tố viện có thẩm quyền.
Công tố Viện bắt buộc phải truy tố người phạm pháp trong hạn 15 ngày tròn.
Trong bất cứ giai đoạn nào, người bị điều tra có thể nhờ Luật sư biện hộ kể cả trước Hội đồng Giám sát Viện.
Các quyết định trên của Hội đồng Giám sát Viện phải được thông tư cho Tổng thống, Thượng Nghị viện, Hạ Nghị viện và Tối cao Pháp viện.
Với sự thiết lập một Giám sát Viện biệt lập với Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp và với thẩm quyền rộng rãi, vấn đề Giám sát để diệt trừ hay ngăn ngừa những hành vi tham nhũng đã được chú trọng đặc biệt và đưa lên hàng quốc sách.

Đoạn III: CÁC CƠ QUAN TƯ VẤN

A. Hội đồng Quân lực cố vấn Tổng thống về các vấn đề liên quan đến quân lực, đặc biệt là việc thăng thưởng, thuyên chuyển và trừng phạt quân nhân cao cấp.

B. Hội đồng Văn hóa Giáo dục, gồm một phần ba hội viên do Tổng thống chỉ định, hai phần ba hội viên do các tổ chức văn hóa giáo dục công và tư, các Hiệp hội Phụ huynh học sinh đề cử. Nhiệm kì của Hội đồng Văn hóa Giáo dục là 4 năm. Hội đồng Văn hóa Giáo dục có nhiệm vụ cố vấn Chính phủ soạn thảo và thực thi chánh sách văn hóa giáo dục. Các dự án luật liên quan đến văn hóa giáo dục có thể được Hội đồng tham gia ý kiến trước khi Quốc hội thảo luận.

C. Hội đồng Kinh tế Xã hội, gồm một phần ba hội viên do Tổng thống chỉ định, hai phần ba hội viên do các tổ chức công kĩ nghệ, thương mại, nghiệp đoàn, các Hiệp hội có tính cách kinh tế và xã hội đề cử. Nhiệm kì của Hội đồng Kinh tế Xã hội là 4 năm. Hội đồng Kinh tế Xã hội có nhiệm vụ cố vấn Chính phủ về những vấn đề kinh tế và xã hội. Các dự luật kinh tế và xã hội có thể được Hội đồng Kinh tế Xã hội tham gia ý kiến trước khi Quốc hội thảo luận.

D. Hội đồng các Sắc tộc, gồm có một phần ba hội viên do Tổng thống chỉ định, hai phần ba Hội viên do các sắc tộc thiểu số đề cử. Nhiệm kì của Hội đồng các Sắc tộc là 4 năm. Hội đồng các Sắc tộc đại diện các Sắc tộc thiểu số sống trên lãnh thổ Việt Nam, có nhiệm vụ cố vấn Chính phủ về các vấn đề liên quan đến đồng bào thiểu số. Các dự luật liên quan đến đồng bào thiểu số có thể được Hội đồng các Sắc tộc tham gia ý kiến trước khi đưa ra Quốc hội thảo luận.
Đối với các cơ quan tư vấn vừa kể – trừ Hội đồng Quân lực – Phó Tổng thống đương nhiên là Chủ tịch (điều 66 Hiến pháp).

Mục VI: TU CHÍNH HIẾN PHÁP

Đoạn 1: AI CÓ QUYỀN ĐỀ NGHỊ TU CHÍNH?
Chiếu theo điều 103 Hiến pháp, Tổng thống hoặc quá bán tổng số Dân biểu hay quá bán tổng số Nghị sĩ có quyền đề nghị tu chính Hiến pháp. Không thể tu chính điều 1 của Hiến pháp theo đó:

1.     Việt Nam là một nước Cộng hòa, độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân ;
2.     Chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân.

Đoạn 2: THỦ TỤC TU CHÍNH
Đề nghị tu chính có viện dẫn lí do phải đệ nạp tại Văn phòng Thượng Nghị viện.
Một Ủy ban Lưỡng viện sẽ được thành lập để nghiên cứu đề nghị tu chính và thuyết trình trong những phiên họp khoáng đại Lưỡng viện.
Quyết nghị tu chính Hiến pháp phải hội đủ 2/3 tổng số dân biểu và nghị sĩ và đạo luật tu chính sẽ được Tổng thống ban hành như một đạo luật thường.
________________
TÀI LIỆU CẦN THAM KHẢO

Tài liệu Việt ngữ hiện nay gồm có 
LÊ ĐÌNH CHÂN, Luật Hiến pháp 1966
LƯU VĂN BÌNH, Luật Hiến pháp 1961
NGUYỄN QUANG QUÝNH, Hiến pháp lược khảo 1961
AFRED DE GRAZIA, Chính trị học yếu lược 1963
NGUYỄN NGỌC HUY, Chính trị học 1966
BÙI QUANG KHÁNH, Vấn đề chỉ huy: Lí thuyết và thực hành 1964
Ngoài các sách kể trên, chúng tôi ghi lại dưới đây – sắp theo từng chương – những bài khảo cứu liên hệ đã đăng trong các tạp chí Việt Nam.
Phần 1
Thiên 1: Những khái niệm và nguyên tắc căn bản
CHƯƠNG I – CHÍNH QUYỀN VÀ QUỐC GIA
Phan Văn Thiết: Từ quyền cai trị người đến sự quản trị tài vật. Đại học số 1 tháng 2-1962
Chân bản ngã và Quyền hành chính trị. Quê hương số 22 tháng 4-1961
Nguyễn Quang Quýnh: Khái niệm quốc gia. Nghiên cứu hành chính số 6 tháng 11-1958
CHƯƠNG II – NGUYÊN TẮC DÂN CHỦ
Nguyễn Văn Tương: Dân chủ và độc tài. Nghiên cứu hành chính tháng 3, 4-1964
Vương Văn Bắc: Những khuynh hướng mới của chủ nghĩa tự do. Nghiên cứu hành chính tháng 5,6-1962
Phân biệt chính thể mạnh và chính thể độc tài. Quê hương tháng 4-1960
Việt Anh: Vấn đề phân loại các chế độ chính trị trên thế giới ngày nay.Bách khoa tháng 6, 7.1963

Thiên II: Tổ chức chánh quyền
CHƯƠNG I – NHỮNG CƠ QUAN CÔNG QUYỀN
Nguyễn Quốc Hưng: Quốc hội và Chính phủ. Quê hương tháng 8.1959
Vũ Văn Mẫu: Nhà Lập pháp và nhiệm vụ tu luật. Luật học kinh tế số 2-1959
CHƯƠNG II – NHỮNG HÌNH THỨC TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN
Lưu Văn Bình: Sự liên quan giữa Hành pháp và Lập pháp – Luật học kinh tế số 2, 1958
Tân PhongNhững thể thức liên hệ giữa Lập pháp và Hành pháp trong chế độ dân chủ, Quê hương tháng 8-1951
Nguyễn Phương Thiệp: Tương quan giữa Hành pháp và Lập pháp, Quê hương tháng 8, 1959
Trần Thúc Linh: Tình trạng khẩn cấp và vai trò của Quốc hội, Quê hươngtháng 12, 1961
Trần Văn Minh: Vai trò của Quốc hội tại các nước nhược tiểu Á Châu, Quê hương tháng 12, 1961
Cung Đình Thanh: Tương quan giữa Hành pháp và Lập pháp trong Hiến pháp 1958 của nước Pháp, Nghiên cứu hành chính tháng 6, 7.1964
CHƯƠNG III – NHỮNG ĐỊNH LUẬT CĂN BẢN CỦA NỀN DÂN CHỦ HIỆN ĐẠI
Phạm Đức Nhuận: Chế độ chính trị và nhà lãnh đạo quốc gia, Quê hươngtháng 9, 1961
Trần Thúc Linh: Chế độ thủ lãnh có trái với nguyên tắc dân chủ không? Quê hương tháng 11.1961
…Duy (mất chữ): Chính phủ mạnh, Bách khoa tháng 10, 1966

Thiên III: Sự tham gia chính trị của công dân trong chế độ dân chủ
CHƯƠNG I: TUYỂN CỬ
Nguyễn Quốc Hưng: Lá phiếu ủy quyền, Quê hương tháng 7.1959
Lí Kim Huỳnh: Vấn đề bầu cử và việc lập danh sách cử tri, Hành chính khảo luận số 9, 1961 (nguyên văn: “1761”)
Lê Công Truyền: Lược khảo về mối tương quan giữa các thể thức đầu phiếu và sự thành lập các chính đảng, Nghiên cứu hành chính, tháng 1, 2-1962
CHƯƠNG II: NHỮNG HÌNH THỨC THAM GIA CHÍNH TRỊ
Nguyễn Văn Bông: Vấn đề chính đảng, Quê hương tháng 11.1960
Đoàn Thêm: Lược khảo về chính đảng, Nghiên cứu hành chính tháng 3-4-5.1964
Vương Văn Bắc: Đại cương về chính đảng, Nghiên cứu hành chính tháng 9, 1960
CHƯƠNG IV: ĐỐI LẬP CHÍNH TRỊ
Cao Hữu Thuần: Đối lập trong các chế dộ dân chủ Tây phương, Đại học tháng 9, 1960
Nguyễn Cao Hách: Chính sách đối ngoại của Anh và chế độ đảng phái, Quê hương tháng 1-1961

Phần II
Thiên I: Những chế độ dân chủ cổ điển

Hoàng Minh TuynhHiệp Chúng Quốc Mỹ Châu, Bách khoa tháng 11, 12-1957 và tháng 1-3-1958
Nguyễn Huy Lịch: Người trước dư luận, Bách khoa tháng 6-1957
J.L.FINKLE: Tổng thống Hoa Kỳ về vấn đề đối ngoại, Quê hương tháng 6-1960
Trần Khải: Tìm hiểu những khuynh hướng chính trị tại các quốc gia thuộc Mỹ La Tinh, Quê hương tháng 4-1962.
Trần Văn Kiện: Quân đội và chính trị tại Ba Tây, Quê hương tháng 9-1961
CHƯƠNG II: CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ TẠI ANH QUỐC
Hoàng Minh TuynhAnh Quốc, Bách khoa tháng 8-10-11.1957
Nguyễn Cao HáchChính sách đối ngoại của Anh và chế độ đảng phái, Quê hương tháng 1-1961

Thiên II: Những chế độ chuyên chế
CHƯƠNG I: CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ NGA SÔ
Vương Văn Bắc: Chủ nghĩa cộng sản, Nghiên cứu hành chính tháng 1-2-1962
Trần Văn Toán: Ý thức Cộng sản, Đại học tháng 2-1962
Huỳnh Minh Tuynh: Chế độ dân chủ Mác-xít, Bách khoa tháng 5-6-7-8-9-10-11-12-1958
Bùi Thế Hải: Nội tình Liên bang chủ nghĩa Xô-viết sau 42 năm xây dựng Cách mạng 10, Quê hương tháng 2-1960.

Thiên III: Những chế độ Vùng Đông Nam Á
CHƯƠNG I: CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ ĐẠI HÀN
Đoàn Thêm: Hiến pháp Đại Hàn, Nghiên cứu hành chính tháng 9-1959
Hoàng Minh Tuynh: Đại Hàn trong khủng hoảng quốc tế, Bách khoa tháng 9-1962
Việt Anh: Sóng gió chính trị ở Nam Hàn, Bách khoa tháng 8-1963
CHƯƠNG II: VIỆT NAM
Vũ Quốc Thông: Công cuộc thành lập chế độ Cộng hòa Nhân vị tại Việt Nam tự do, Nghiên cứu hành chính tháng 10-1960
Lưu Văn Bình: Sự liên quan giữa Hành pháp và Lập pháp trong Hiến pháp Việt Nam, Luật học kinh tế 1958
Nguyễn Đức: Quyền phúc nghị của Tổng thống theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa, Nghiên cứu hành chính tháng 10.1962
Bùi Phan Quế: Phân tích và phê bình quyền hành của Tổng thống theo Hiến pháp 26-10-1956. Luận án Tiến sĩ luật 1965
Tiểu Dân: Cảm nghĩ về sự cáo chung của chế độ độc tài, Bách khoa tháng 11-1963
Trương Thiên Hương: Bàn về một vài nét của bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp Việt Cộng, Quê hương tháng 8-1963
(Hết phần chính của tác phẩm. Đón xem các phần phụ bản)

Nguồn: Nguyễn Văn Bông, Luật Hiến pháp và Chính trị học. In lần thứ hai. Sài Gòn 1969. Bản điện tử do pro&contra thực hiện.