Thứ Năm, ngày 11 tháng 2 năm 2016

Sự biến hóa của Đế quốc



Le Monde
Phạm Trọng Tri dịch

Phóng viên Michel Lefebvre của Le Monde phỏng vấn hai sử gia Mĩ, Jane Burbank và Frederick Cooper, về sự chìm nổi của các thực thể chính trị có tên Đế quốc (Empire).

Michel Lefebvre (Le Monde): Các ông đã làm việc rất lâu về các đế quốc để viết cuốn Đế quốc, từ Trung Hoa cổ đại cho tới ngày nay, do Payot ấn hành năm 2011[i]. Các ông có thể cho biết một đế quốc thường được hình thành như thế nào?

Frederick Cooper (F.C.): Quan hệ giữa các thực thể chính trị ít khi đối xứng. Khi một nhóm xã hội này mạnh hơn một nhóm khác, điều này sẽ tạo ra một trạng thái bất ổn có thể gây ra một tình trạng bất bình đẳng gia tăng về chính trị. Sẽ có một vài cộng đồng có một số lợi thế so với các cộng đồng khác về: sự gần gũi các huyết mạch thương mại, một khả năng sinh sản nhiều hơn một chút hoặc một lãnh đạo quyến rũ. Họ bắt đầu tìm kiếm các đồng minh, thông qua hôn nhân chẳng hạn, và như thế họ khởi sự một công cuộc mở rộng quyền lực. Nếu, như hầu hết mọi nơi trên thế giới, đó là các xã hội đa nguyên, không chỉ chấp nhận một nền văn hóa, người ta sẽ bắt tay vào việc tạo ra các cấu trúc đế quốc. Đó là các cấu trúc quyền lực có tính bất đối xứng và bành trướng nhằm duy trì một sự phân biệt nào đó giữa các dân tộc đã bị nhập vào trong hệ thống.

Le Monde: Trong cuốn sách có một so sánh có tính phát hiện về Trung Hoa và La Mã. Các ông có thể cho biết tóm tắt các khác biệt giữa hai đế quốc này, một ở châu Á, một ở phương Tây?

Jane Burbank (J.B.): Có một thời điểm hết sức quan trọng khi La Mã quyết định trao quyền công dân cho các thần dân không phải người La Mã. Đó là sự kiện có tầm vóc lịch sử vĩ đại cho toàn bộ thế giới. Trung Hoa chưa bao giờ làm điều đó vì nó được xây dựng trên những nguyên lý khác hẳn. Chủ quyền là một thuộc tính của hoàng đế, kẻ cai trị thông qua sự trợ giúp của nhóm cận thần. Và trong lịch sử đế quốc của Trung Hoa không có ý tưởng đó, ý tưởng mà chúng ta cho là “phương Tây”, mở rộng quyền lực cho các công dân.

F.C.: Tuyên bố của Caracalla[ii] năm 212 đã mở rộng quyền công dân cho tất cả mọi cá nhân tự do thuộc sự quản lý của đế quốc, không bao gồm nô lệ và phụ nữ. Trước khi có tuyên bố này, vẫn có thể đạt được tư cách công dân nhưng khó khăn hơn. Trong các vùng bị chinh phục, để trở thành công dân La Mã, các thần dân nơi đó phải học tiếng La Tinh, hội nhập văn hóa La Mã và xây dựng quan hệ với giới chức La Mã.

Le Monde: Như thế, Trung Hoa đã đi theo một con đường rất khác, vậy điều gì là đặc biệt?

J.B.: Ở Trung Hoa, tham vọng đế quốc chưa bao giờ vắng bóng ngay cả lúc đất nước không do một dòng tộc nào khống chế trong nhiều thế kỉ. Hoàng đế là người đảm bảo hòa bình, định ra luật pháp, bảo đảm trật tự. Một nét đặc biệt khác ở Trung Hoa là thiết chế quan liêu-hành chính (bureaucratie) được hình thành trước rất lâu so với các nơi khác. Trở thành quan viên, nghĩa là thành người phục vụ hoàng đế, đã là một tham vọng của giới tinh hoa. Nhưng đối với hoàng đế, hệ thống hành chính là một phương tiện để kiểm soát quyền lực địa phương và để tạo ra giới quí tộc. Người Trung Hoa đã sáng chế ra sự kiểm soát bằng hệ thống quan liêu, bởi thế họ đã cai trị thành công các vùng đất rất trù phú trong thời gian dài.

Le Monde: La Mã, thông qua việc trao quyền công dân cho các dân tộc bị chinh phục, đã sáng tạo ra một ý niệm về chủ quyền[iii] có tính đặc trưng cho phương Tây; các đế quốc khác, từ Mông Cổ cho tới Abbasside[iv], đã thu nhập nhiều dân tộc có các phong tục và tôn giáo khác nhau nhưng lại bằng một cách khác…

J.B.: Chúng ta có thể nhớ đến một loạt các đế quốc “Á-Âu” được xây dựng dựa trên các văn hóa cai trị của các nhóm người du cư ở vùng hoang nguyên (Con đường Tơ lụa). Đối với người Mông Cổ hoặc người Thổ của châu Á, hoàng đế là hoàng đế của tất cả mọi người nhưng ông ta lại trao nhiều quyền cho giới tinh hoa địa phương và chấp nhận các tôn giáo khác nhau. Tính đa dạng tạo nên sự vĩ đại cho hoàng đế. Ngay cả khi đang thôn tính các đô thị ở trung Á, người Mông Cổ tránh đụng tới các giáo sỹ địa phương và giới thợ. Đối với các nhà chinh phục Mông Cổ, những người đó là những nhân vật hết sức hữu dụng. Còn khi đế quốc La Mã bị Cơ đốc hóa thì tôn giáo lại trở thành một bộ phận của văn hóa đế quốc, gây khó khăn cho sự tồn tại công khai của các tôn giáo khác. Nhưng dưới con mắt của người Mông Cổ, người Nga, người Ottoman, sự đa dạng về dân tộc trong đế quốc là điều tự nhiên và có lợi.

Le Monde: Đó cũng đúng với các đế quốc Omeyyade[v] và Abbasside?

F.C.: Các đế quốc Hồi giáo đã được sinh ra bên cạnh các đế quốc khác, đế quốc Byzantin và đế quốc Ba Tư. Đầu tiên, họ còn ở cách khá xa trung tâm quyền lực của các đại cường đó, điều này cho phép họ củng cố quyền lực trước khi đối đầu với những đế quốc cổ xưa hơn và hùng mạnh hơn họ trên phương diện quân sự. Thời kỳ lúc các caliphat[vi] tự hình thành và phát triển sau khi Mahomet qua đời, ban đầu họ chỉ là một nhóm tinh hoa rất giới hạn, hoàn toàn là người Ả Rập và tạo lập quanh một vài bộ tộc trong vùng. Nhưng họ đã đạt được sự bành trướng rất nhanh và không phải quá vất vả trong việc cải giáo các dân tộc bị chinh phục. Caliphat của Omeyyade đã sử dụng một số cấu trúc của Byzantin để cai trị một số vùng trong đế quốc của mình. Nhưng sau này, chính sách đó đã thay đổi do nhiều người tự cải sang Hồi giáo và các caliphat đã triển khai nhiều phương thức cai trị phức tạp hơn. Khi caliphat Omeyyade bị thay bằng caliphat của Abbasside vào năm 750 thì nảy sinh ra vấn đề làm thế nào để cai quản được một cấu trúc quá rộng và quá đa dạng. Đầu tiên, họ sử dụng người Ả Rập – những người thuộc dân tộc sáng lập đế quốc -, sau đó, với thời gian và nhiều thành công, họ làm theo chiều ngược lại. Ví dụ, để có các nô bộc trung thành, họ dùng những đàn ông trẻ tuổi không phải Ả Rập cũng không phải Hồi giáo nhưng phải trở thành những người lệ thuộc hoàn toàn, bị cải thành Hồi giáo và đào tạo thành các viên quản lý cho caliphat. Đó là một biến thể của giới quan lại Trung Hoa, nhưng khác biệt ở chỗ con người có nguồn cội riêng biệt trước đó trở thành lệ thuộc tuyệt đối vào caliphat.

Le Monde: Chúng ta vừa nói về các đế quốc Trung Hoa, La Mã và Hồi giáo, chúng đã biến đổi ra sao, có buộc phải biến mất hay tự tái sinh không?

J.B.: Để tiếp tục tồn tại, các đế quốc đều phải điều chỉnh các chính sách để đối phó với các thách thức mới. La Mã ban đầu là một nước cộng hòa, sau đó là principat[vii] và, với thời gian, đã trở thành một đế quốc Cơ đốc. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh, đó là chính sách của đế quốc thường rất linh hoạt, rất năng động. Một đế quốc có thể mất một phần lãnh thổ nhưng không để mất tất, đó là trường hợp đế quốc Anh. Vào cuối thế kỉ XVIII, nó phải nhả các thuộc địa tại Bắc Mĩ nhưng vẫn giữ được các sở hữu ở vùng Ca Ri Bê cho tới tận những năm 1960. Những nơi đó cho sản lợi nhiều hơn các vùng ở Bắc Mĩ. Hơn nữa, Đại Anh quốc vẫn còn cả bán đảo Ấn Độ.

Le Monde: Nếu nhìn lại thế kỉ XVII, những đại cường nằm ở đâu?

J.B.: Thay vì xếp các đế quốc thành tiền hiện đại hoặc hiện đại, chúng ta sẽ thấy thú vị hơn nếu tìm hiểu sự cạnh tranh giữa các đế quốc qua chiều thời gian và không gian. Vào thế kỉ XVI, đầu tiên ta có Đế quốc Ottoman[viii]. Kẻ thù chính của Charles Quint[ix] chính là Soliman Xa hoa[x]. Người Ottoman đã đoạt được một phần lớn Đế quốc La Mã và có một vị thế rất lớn trong nền kinh tế toàn cầu lúc đó. Họ là những người quyền thế ở khu vực Địa Trung Hải, ở một phần châu Âu và có nhiều lợi thế để hướng về phương Đông, đối mặt với Trung Hoa - một nơi giàu có của thế giới. Người Ottoman đã biết nhiều cách để cai quản các lãnh thổ của họ. Như chúng ta đã đề cập, họ biết biến nô lệ thành các viên quản lý cao cấp. Đồng thời họ còn tạo ra một hệ thống hậu duệ triều đại hết sức đặc biệt. Đó là những người được sinh ra chỉ từ hoàng đế với các bạn tình không giá thú để tránh được các vấn đề liên đới tới các quyền lợi hôn nhân trong giới quí tộc. Như vậy, vào thế kỉ XVI, chúng ta có các đế quốc hùng mạnh Ottoman, Habsbourg[xi] và Trung Hoa thuộc nhà Minh và sau đó là Thanh, hai triều đại đã thống nhất Trung Hoa.

Le Monde: Chúng ta đã đến từ bờ bên kia của Đại Tây Dương vào năm 1492. Các ông giải thích thế nào về việc Hoa Kì đã được sinh ra từ phong trào chống chế độ thực dân Anh rồi chính họ lại trở thành một đế quốc thực dân?

F.C.: Hoa Kì đã hiện ra từ một cuộc nổi loạn chống lại một đế quốc và cuộc cách mạng đó đã được hỗ trợ bởi một đế quốc kẻ thù của Anh, đó là Pháp. Ở châu Mĩ lúc đó còn một đế quốc thứ ba rất mạnh, đó là đế quốc Tây Ban Nha. Các nhà lập quốc Hoa Kì đã có ý thức rất sâu về các rủi ro phải sống trong một thế giới gồm nhiều đế quốc hùng mạnh; đó chính là lý do tại sao 13 thuộc địa đã quyết định không tạo thành 13 Nhà nước-dân tộc mà cùng liên kết tạo thành một liên hiệp để có thể sống sót trong một không gian đầy các đế quốc. Thomas Jefferson đã bảo vệ ý niệm “đế quốc tự do”. Nhưng ông chưa bao giờ nghĩ tới sự tự do đó cũng dành cho người nô lệ và người bản địa Indien. Đó là đế quốc tự do dành cho người Âu-Mĩ. Khái niệm đó có tính nền tảng đối với họ. Người Mĩ, người Âu, người da trắng tự cho họ quyền bành trướng lãnh thổ của họ, đó là cái chúng ta gọi là Định mệnh Khai hóa (Manifest Destiny)[xii].

Le Monde: Chúng ta đang sống trong một hệ thống chính trị còn rất mới, Nhà nước-dân tộc, trong khi các đế quốc đã có một lịch sử rất dài lâu. Một số đế quốc cổ xưa đã có những phương cách chúng ta có thể gọi là các sách lược đế quốc. Liệu các sách lược này có đe dọa các Nhà nước-dân tộc?

J.B.: Đã có những trường hợp khá rõ ràng, như nước Nga. Đó là một ví dụ tốt cho thấy một đế quốc có những biến chuyển gây mất hẳn một số nguyên tắc trong suốt thế kỉ XX. Đế quốc Nga, như nó tự xưng một cách chính thức, đã bị thay thế bằng Liên Xô. Người cộng sản đã tìm được một công thức để quản lý sự đa dạng về sắc tộc – thậm chí cả về dân tộc – bằng một cách thức khá hiệu quả trong suốt 74 năm tồn tại của chế độ của họ thông qua việc tạo ra một liên hiệp các dân tộc khác nhau. Chúng ta có thể thấy lại trong đế quốc đó nguyên tắc cai trị của người Mông Cổ hoặc Á-Âu – tư duy thu nhận các dân tộc khác nhau vào một thực thể chính trị minh thị thừa nhận tính chất tạp chủng. Ngày nay, Nga vẫn còn là một liên bang và vẫn thành công trong việc tạo dựng một thực thể chính trị với nhiều tôn giáo và nhiều dân tộc khác nhau. Liên bang Nga hiện đang cố giành lại các lãnh thổ đã có ở “Đế quốc Xô Viết” cũ.

F.C.: Vấn đề dân tộc đã được đặt ra vào thế kỉ XIX. Nhưng khái niệm này liệu đã có tính quyết định cho chính trị chưa? Thế giới vẫn còn là thế giới của các đế quốc trong suốt thế kỉ XIX và ít nhất kéo dài cho tới giữa thế kỉ XX. Khái niệm thế giới gồm các Nhà nước-dân tộc, trong đó mỗi thành viên là một thực thể pháp lí tương đương với mỗi thành viên khác, là một khái niệm khá mới. Vào đầu thế kỉ XX, toàn thế giới có chưa tới 10 đại cường, tất cả đều có cấu trúc phức hợp và đa dạng, tất cả đều cạnh tranh với nhau. Trong nội bộ nhiều đế quốc lớn còn có các kình địch về dân tộc tính. Trong Đế quốc Áo-Hung, các kình địch đó ít nhiều đã được quản lí. Trong Đế quốc Đức, thực thể được hình thành vào cuối thế kỉ XIX, còn có các vùng trực thuộc nói tiếng Đan Mạch, Ba Lan, Pháp, Yiddish[xiii] và gồm nhiều thuộc địa hải ngoại tại châu Phi, Đông Á, Thái Bình Dương. Đó là một cấu trúc rất phức tạp. Đầu thế kỉ XIX, Đế quốc Ottoman bị suy yếu nhiều so với trước mặc dù vẫn rất rộng lớn và nằm ở ngay vị trí chiến lược. Đế quốc Anh có nhiều thuộc địa, nhiều vùng bảo hộ và các dominion[xiv] được quản lí bằng phương cách rất khác, trong đó chính quyền Anh phải dùng giới tinh hoa địa phương.

Thế chiến đầu tiên là cuộc chiến giữa các đế quốc, không phải giữa các dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc đã lớn lên qua cuộc chiến này. Nhưng sự kết thúc chiến tranh lại làm gia tăng quyền lực cho các đế quốc chiến thắng và phá tan các đế quốc bại trận; sự tái định hình này đã gây ra bất ổn trong nội tại cựu Đế quốc Áo và cựu Đế quốc Ottoman. Chính trong bối cảnh đó đã nảy ra một đế quốc mới – Quốc xã (nazi). Với quan điểm phân biệt chủng tộc, nó bắt đầu gây chiến chống lại các đế quốc khác, là Pháp, Anh, Xô Viết và Mĩ - những thực thể, rốt cuộc, đã chiến thắng vì biết thu nhận các dân tộc thay vì tiêu diệt họ.

Le Monde: Một phương diện khác của đế quốc, đó là khái niệm chủ nghĩa đế quốc do John Hobson, nhà nghiên cứu Anh, đề xuất, sau đó được Lê Nin dùng lại. Chủ nghĩa đế quốc về kinh tế vận hành như thế nào?

F.C.: Khái niệm chủ nghĩa đế quốc thị trường – là nhan đề của một bài báo, The Imperialism of Free Trade (chủ nghĩa đế quốc của tự do thương mại) – đã được hai sử gia, John Gallagher và Ronald Robinson, sử dụng cách đây hơn nửa thế kỉ. Đối với họ, thời điểm quan trọng là đầu thế kỉ XX, khi Đại Anh quốc trở thành một siêu cường kinh tế sau khi Napoléon thất thế và Đế quốc Tây Ban Nha bị tan rã ở Nam Mĩ. Anh là nước duy nhất có năng lực hàng hải khống chế các đại dương. Ý tưởng của các chiến lược gia Anh là thực hiện một loại soft power (quyền lực mềm) bằng cách đầu tư ra khắp thế giới. Nhưng trong cấu trúc bất đối xứng này, chủ nghĩa đế quốc tự do thương mại có thể rất nhanh chóng biến thành một dạng thuộc địa hóa kinh điển. Trong một chừng mực, đó chính là những điều đã xảy ra vào cuối thế kỉ XIX. Đầu tiên là sự thôn tính và chia chác châu Phi, tiếp theo là Thế chiến thứ nhất. Chúng ta cần phải xem xét kĩ lưỡng hơn những thay đổi trong các tương quan giữa kinh tế và quyền lực do chủ nghĩa đế quốc kinh tế, xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX, đã tạo ra.

Sau Thế chiến hai, sau thất bại của Đức và Nhật, cùng với sự bất lực của Pháp và Liên hiệp Vương quốc Anh trong việc duy trì sức mạnh quân sự và kinh tế và, cuối cùng, với sự sụp đổ của các đế quốc thuộc địa, người ta đã có thể nghĩ đến một nguyên tắc dựa trên sự bình đẳng giữa các Nhà nước có chủ quyền được điều chỉnh thông qua các mối quan hệ thị trường xuyên quốc gia. Đó là một viễn tưởng không tương thích với hiện thực. Hiện thực là chúng ta đang sống trong một thế giới bất bình đẳng. Chúng ta đang sống trong một thế giới trong đó có những thực thể mạnh nhất vẫn khát khao mạnh hơn. Đó là những gì Hợp Chúng Quốc đang thực hiện bằng các phương tiện kinh tế, văn hóa và quân sự. Đó là những gì đang diễn ra từ Trung Hoa, quốc gia đã thành một quyền lực kinh tế và cũng là nước có năng lực đế quốc thông qua kinh nghiệm đế quốc của riêng nó trong hai nghìn năm với các kỹ năng hành chính. Hiện nay còn có mối hi vọng phục dựng một thực thể chính trị Hồi giáo, do người theo đạo Hồi ý thức được việc họ đã mất quá nhiều, nhất là sau khi Đế quốc Ottoman sụp đổ. Đó là nơi xuất phát của ý tưởng về một caliphat mới hoặc một Tân Ottoman bên bờ Đông Địa Trung Hải. Tại châu Âu, người ta cũng đang hi vọng về một sức mạnh mới. Không phải Tân Đế quốc La Mã, mà là một cấu trúc liên bang bao gồm sự hiện tồn của tất cả mọi Nhà nước thành viên của Liên hiệp châu Âu với một chính sách mới vượt hẳn trên các Nhà nước. Đó là một giải pháp phi đế quốc, phi quốc gia.

Le Monde: Các ông muốn nói rằng các đế quốc không bao giờ chết?

J.B.: Thật sự không có câu trả lời cho vấn đề cáo chung của đế quốc. Người ta có thể đã nhiều lần cho rằng đế quốc đã chết trong lịch sử Trung Hoa nhưng rồi ngày hôm nay nó đang quay lại một cách ấn tượng sau một thời kỳ suy yếu. Lịch sử quan tâm đến khoảng thời gian dài. Có thể là ý tưởng Nhà nước-dân tộc sẽ bị thay thế bằng những thực thể chính trị khác phức tạp hơn, lấy tên hoặc không lấy tên đế quốc. Chúng ta cũng nên nhớ rằng từ này trong nửa đầu thế kỉ XX mang một nghĩa tích cực. Chúng tôi đang sống ở tiểu Bang New York và cái tên gốc của nó là Nhà nước (tiểu bang) Đế quốc (Empire State), tên này có từ thế kỉ XVIII. Tòa nhà chọc trời Empire State Building được xây dựng vào khoảng năm 1931, là thời kỳ từ đế quốc vẫn còn dùng để biểu tỏ tầm quan trọng và sức mạnh của New York. Nhớ tiếc đế quốc không ích gì nhưng cần phải chú ý tới sự phức tạp trong những biến hóa của chính trị, những điều đã tạo nên hiện thực hôm nay. Sự phân chia quyền lực trên thế giới rất bất bình đẳng và sự bất bình đẳng trong nội tại mỗi quốc gia và giữa các quốc gia với nhau vẫn còn rất lớn.

Nguồn: Pour durer, les empires doivent transformer leur politique, Le Monde bản giấy, số đặc biệt, tháng 10-12/2015.

(Các chú thích là của người dịch)



[i] Bản đang nói là bản dịch tiếng Pháp. Nguyên bản Anh ngữ: Jane Burbank, Frederick Cooper, Empires in World History: Power and the Politics of Difference. Princeton: Princeton University Press, 2010. (Jane Burbank là Giáo sư về lịch sử Nga tại Đại học New York, các nghiên cứu mới nhất tập trung vào pháp luật và chủ quyền; Frederick Cooper là Giáo sư lịch sử tại Đại học New York, chuyên nghành sử châu Phi thế kỷ XX, quan tâm nhiều về các vấn đề lao động, thực dân luận, quá trình giải thực dân và tư cách công dân.)
[ii] Biệt danh nổi tiếng của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius Severus Antoninus Augustus (188 –217), trị vì trong thời gian 198-217.
[iii] Chủ quyền của nhân dân (populaire souveraineté), không chỉ vua-hoàng đế mới có uy lực, tiếng nói về quốc gia-đế quốc.
[iv] Đế quốc Hồi giáo của người Ả Rập do Abu al-Abbas Abd Allah sáng lập, tồn tại trong khoảng 750-1258 với trung tâm quyền lực nằm tại khu vực thuộc Iraq hiện nay.
[v] Đế quốc Hồi giáo của người Ả Rập, có trung tâm nằm tại Damas (thủ đô hiện nay của Syrie) từ năm 661-750.
[vi] Thủ lĩnh Hồi giáo được cho hoặc tự cho là người nối nghiệp giáo chủ Mahomet.
[vii] Chế độ chính trị của La Mã sau khi thể chế cộng hòa bị Julius Caesar xóa bỏ. Chế độ này tồn tại trong hai thế kỷ đầu tiên của Đế quốc La Mã, đặc trưng bằng sự cầm quyền của các hoàng tử, được gọi là người công dân thứ nhất, với các thiết chế cộng hòa được khôi phục về mặt hình thức.
[viii] Đế quốc do người Thổ sáng lập, kéo dài hơn 600 năm, từ thế kỷ XV cho tới năm 1922. Thời kỳ cực thịnh trong thế kỷ XV, XVI, Đế quốc Ottoman có lãnh thổ bao trải trên ba châu lục, Âu, Á, Phi.
[ix] (1500-1558), một trong những người có quyền lực nhất tại châu Âu trong thế kỷ XVI, cai trị Hà Lan, trị vì Đế quốc Tây Ban Nha và Đế quốc La Mã Thần thánh.
[x]  (c.1494-1566) Hoàng đế Thổ thứ mười của Đế quốc Ottoman, trị vì trong khoảng 1520-1566.
[xi] Một dòng họ hoàng gia tại châu Âu nổi tiếng vì có rất nhiều người làm hoàng đế hoặc vua ở nhiều vùng châu Âu suốt từ thế kỷ XV – XVIII.
[xii] Manifest Destiny là thuật ngữ chỉ quan điểm có tính ý thức hệ (ideology) xuất hiện tại Hoa Kì vào giữa thế kỷ XIX, cho rằng người dân Hoa Kì có sứ mệnh và bổn phận truyền bá dân chủ và văn minh sang khắp lục địa Bắc Mĩ bằng việc xâm lấn, mở rộng lãnh thổ thêm sang phía Tây.
[xiii] Là một ngôn ngữ của một tộc người Do thái sống ở vùng Trung và Đông Âu, có sự pha trộn giữa các phương ngữ Đức trung cổ và một số tiếng châu Âu, Do Thái cổ khác.
[xiv] Các quốc gia (vùng đất) tự trị nhưng vẫn thừa nhận quyền lực của Hoàng gia Anh.