Hiển thị các bài đăng có nhãn Quan hệ Việt-Trung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quan hệ Việt-Trung. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014

Biển Đông đã mất? (1)

Phạm Hồng Sơn

Đừng để người ta cười (phần 1)

Hổ thẹn


Theo tôi, bất cứ ai có trí tuệ bình thường đã đọc kỹ hai văn bản này và là người có lòng công bằng, bất thiên vị, vẫn thừa nhận tính chính đáng của chính thể cộng sản Việt Nam đều phải công nhận:

Hoàng Sa, Trường Sa cùng những chủ quyền liên quan theo luật quốc tế hiện nay là thuộc Trung Cộng – tức Trung Hoa cộng sản, quốc gia vừa từng là “anh em răng môi”, vừa vẫn là “bạn vàng bốn tốt”, “đối tác chiến lược toàn diện” của Nhà nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam (tức Đảng Lao động Việt Nam vào lúc Công hàm của chính thể Hồ Chí Minh được công bố – chính thể Việt Nam hợp pháp duy nhất từ năm 1945 tới nay dưới nhãn quan của Đảng Cộng sản Việt Nam.)

Bởi vì:

-Một: Ta không thể tự mâu thuẫn khi vẫn thừa nhận tính chính đáng, tính đại diện của một nhà nước, một chính phủ lại vừa phủ nhận hành động của nhà nước đó, chính phủ đó khi tự xác định “có trách nhiệm tôn trọng triệt để” tuyên bố công khai của một chính phủ khác khi chúng ta đã hoàn toàn im lặng vào lúc cam kết đó được lập nên.

-Hai: Việc cố diễn giải nhằm bác bỏ tính ràng buộc của một cam kết (có tính khế ước) của một tổ chức mà ta thừa nhận tính chính đáng của nó, và khế ước đó còn tiếp tục được minh định thêm nhiều lần khác, bằng nhiều cách khác của chính tổ chức đó, không chỉ là sự ngạo ngược với tinh thần Pháp trị phương Tây mà còn phỉ báng chữ Tín phương Đông.

-Ba: Người còn liêm sỷ không thể vẫn coi một chính thể là “ngụy” – tức bác bỏ tính chính đáng của chính thể đó – nhưng lại dùng những phát ngôn, hành động của chính chính thể (bị coi là) “ngụy” đó để biện hộ cho sự “chính đáng” của bản thân.

Tất nhiên, cứ có kẻ cầm quyền thì có biện sỹ - những người nhiều kiến thức, giỏi biện luận, chuyên phò tá kẻ quyền thế để mưu bổng tước bất chấp đúng sai, đức nghĩa. Tuy nhiên cái lý trí cùng đạo đức sơ đẳng của con người đều phải biết không thể nào tuyên bố chấp nhận một toàn thể, rồi sau đó lại phủ nhận phần tử của cái toàn thể đó; người ta cũng không thể kiện, không thể đòi lại vật đã bán, đã cho bằng việc nại ra những hình ảnh về sở hữu vật đó trước khi bán hay cho. Những kiểu lý luận này chỉ là lối biện luận phi logic một cách ngang ngược mà dân gian đã đặt tên: cãi chày cối lấy được.

Biện sỹ là nghề đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm nay cả ở Đông lẫn Tây, sự sai lầm của con người càng không mới, nhưng đến thời này mà chúng ta vẫn thấy hạng biện sỹ đó còn đất dụng võ thì thật kỳ lạ, lối biện luận đó ta lại thấy ở những danh sỹ khoa bảng thì thật hãi hùng.

Vô ơn

Nhìn vào quan hệ của hai chính thể cộng sản Việt, Trung, ngoại trừ một giai đoạn khoảng hơn 10 năm (1979-1990), người ta không thể không thấy bao trùm lên quan hệ đó là sự gắn bó thân tình đặc biệt của hai nước láng giềng và Trung Cộng là bên đã giúp đỡ rất nhiều cho Việt Nam cộng sản. Ngắn gọn có thể nói, mỗi thành tựu quan trọng của chính thể Việt Nam cộng sản trước năm 1990 đều không thể thiếu sự trợ giúp của Trung Cộng.

Tư trang, quân dụng cho tất cả những người lính miền Bắc vào những thời kỳ đó, đặc biệt trong cuộc “kháng chiến chống Mỹ-Ngụy”, từ lính tới tướng, từ đầu tới chân, từ trong ra ngoài, cho tới cái ba-lô, bi-đông, lương khô, thuốc tăng lực, v.v. đều của Trung Hoa. Tình hữu nghị Việt-Trung còn được hiện thân vào những ca từ, những điệp khúc thiết tha, hào hùng: “Việt Nam, Trung Hoa núi liền núi sông liền sông, chung một biển Đông với tình hữu nghị sáng như rạng đông…Nhân dân ta ca muôn năm Hồ Chí Minh-Mao Trạch Đông. Hồ Chí Minh-Mao Trạch Đông.”

Ngay năm 1979, giữa lúc quan hệ hai đảng xuống tới mức thấp nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ:

“Năm 1950, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trung Quốc là nước viện trợ vũ khí, trang bị quân sự nhiều nhất cho Việt Nam trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp Nhân dân Trung Quốc, mặc dầu còn có nhiều khó khăn, nhất là trong những năm đầu của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đã dành sự giúp đỡ to lớn cho nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống bọn đế quốc xâm lược…, những người cầm quyền Bắc Kinh thường hay nhắc đến việc Trung Quốc viện trợ cho nước Việt Nam, thậm chí khoe rằng quân đội của họ đã “chiến đấu ở Điện Biên Phủ”, v.v….[i] (tôi-PHS nhấn mạnh những chỗ tô đậm)

Đó chỉ là góc nhìn hẹp từ phía Việt Nam. Vậy, một người Trung Hoa dân tộc chủ nghĩa sẽ nghĩ gì về những người Việt Nam hôm nay vừa ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam vừa bác bỏ Công hàm Hồ Chí Minh 1958, vừa lớn tiếng hô hoán cáo buộc Trung Cộng xâm lấn Hoàng Sa, Trường Sa?

Nguy hiểm

Như đã thấy, nếu căn cứ vào lý, tức đưa vụ việc ra kiện tụng, chắc chắn Trung Hoa cộng sản (Trung Cộng) sẽ có lý hơn – tức sẽ thắng Việt Nam (cộng sản). Còn nếu tranh cãi cứ tiếp tục leo thang, kể cả chỉ bằng phương pháp chính trị-ngoại giao và không phải là đóng kịch, nguy cơ xung đột quân sự vẫn rất có thể xảy ra. “Chiến tranh chỉ là sự tiếp tục của một chính sách chính trị bằng một phương tiện khác thôi.” (Clausewitz)[ii]

Chưa kể, hai chính thể toàn trị cộng sản Việt và Trung đều có những nhu cầu tự thân trong việc cải hóa tính chính đáng đang có chiều sa sút. Mà chiến tranh luôn là một vị có thể phải gia thêm trong thang thuốc bốc cho độc tài bất an.

Tuy nhiên, dù chưa bàn đến chênh lệch sức mạnh giữa hai quốc gia cũng như các yếu tố quốc tế, một cuộc chiến trên những cơ sở như thế, dù ở mức độ nào, chắc chắn không thể mang lại được ích lợi gì cho dân Việt Nam, ngoại trừ kẻ chuyên quyền.

Như vậy bất kỳ ai vừa thừa nhận tính chính đáng của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (chính là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) lại vừa cố đòi chủ quyền Biển Đông liên quan tới Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, họ vừa không chỉ tự mâu thuẫn, chống lại công lý mà còn có nguy cơ đẩy xung đột đi tới chỗ chém giết lẫn nhau, tai hại thêm cho lợi ích quốc gia của chính Việt Nam. Còn nếu tranh cãi chỉ dừng ở kiện tụng, đó cũng sẽ là những cuộc kiện tụng tốn kém tiền bạc, công sức của dân với một phán quyết gần như chắc chắn: Việt Nam (cộng sản) ít lý hơn.

Xấu hơn

Với lòng tự tôn dân tộc chúng ta có thể vẫn không tin, không chấp nhận thực trạng u ám trên đây. Nhưng sự thật tồn tại đâu cần sự đồng ý của chúng ta. Những văn bản, luận cứ bất lợi cho chủ quyền Việt Nam, như đã biết hoặc chưa biết, có thể đều đang nằm trong tay chính quyền Trung Cộng.

Cũng trong sách đã dẫn, tháng 10/1979 Đảng Cộng sản Việt Nam tiết lộ thế này:

Những người cầm quyền Trung Quốc đã nhận ngồi vào đàm phán với phía Việt Nam… Mặt khác họ đặt điều kiện tiên quyết là Việt Nam phải từ bỏ đường lối độc lập, tự chủ của mình, từ bỏ chủ quyền của mình đối với các đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì họ mới đi vào bàn bạc các vấn đề khác.”[iii] (tôi nhấn mạnh chỗ tô đậm)

Một dấu hỏi: Hội nghị Thành Đô 1990 chỉ là bước kế tiếp sau “điều kiện tiên quyết” vừa nói đã được thỏa mãn? Không ai có thể trả lời được nghi vấn này, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Cộng. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết một chi tiết khác:

“…Không có gì đáng ngạc nhiên là họ đã khước từ một hiệp định quân sự bí mật giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo hiệp định này về nguyên tắc đến tháng 6 năm 1965, phía Trung Quốc phải gửi phi công sang giúp Việt Nam. Nhưng…”[iv] (tôi nhấn mạnh chỗ tô đậm)

Như thế, không thể loại trừ Trung Cộng đã thủ đắc nhiều chứng cứ khác kiểu Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng” [sic]?

Vụ bạo động xảy ra một cách bất ngờ trong mấy ngày liên tiếp ở Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Áng trong tháng Năm vừa qua còn cho thấy một viễn cảnh xấu hơn. Dù nguyên nhân gốc từ đâu, như một số nhà phân tích đã nêu, do tình báo Trung Cộng giật dây hay do chính quyền Việt Nam cố tình tạo ra để lấy cớ dẹp biểu tình, chúng đều chỉ rõ: hoặc Việt Nam đã bị Trung Cộng thâm nhập, kiểm soát rất sâu tới mức chính quyền bất lực, hoặc chính quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam rất sắt máu với dân – sẵn sàng chịu một tổn thất không nhỏ cả về kinh tế lẫn chính trị (đối ngoại) để có cớ phòng và đè bẹp những nhen nhúm dân chủ đối lập còn rất nhỏ và yếu.

Vô âm

Vấn đề Biển Đông trong những năm qua cho thấy chủ nghĩa dân tộc kém tỉnh táo ở Việt Nam vẫn rất mạnh.

Khi vụ Giàn khoan HD981 xảy ra, khi báo đài của Đảng mới đổi giọng cao lên một chút, đã có nhiều người bày tỏ sẵn sàng vác súng ra trận bất biết đó sẽ là cuộc chiến vệ quốc hay lại vệ đảng (?).

Chỉ bằng một phát biểu có tính dân tộc chủ nghĩa, một ông thủ tướng bạo quyền đã rất nổi tiếng về hứa đẹp và chỉ hứa đẹp vẫn làm chao đảo dư luận, vẫn làm nhiều thức giả ngưỡng mộ, kỳ vọng ngất ngây.

Quá lo lắng cho quyền lợi dân tộc Việt đã khiến cả những người có trí tuệ không tầm thường chấp nhận một khẩu hiệu có nhân sinh quan cạn hẹp dễ khích động tha nhân: “Thoát Trung”.

Nhưng chủ nghĩa dân tộc không phải là thứ có thể độc quyền. Những người Hoa dân tộc chủ nghĩa quá khích chắc chắn không thể không thấy những phản ứng kể trên của người Việt. Họ cũng không thể không thấy những hiện tượng lạ lùng khác: Truyền thông nhà nước gọi nhân sỹ, trí thức đi biểu tình là “phản động”; người của Đảng đi biểu tình bị đạp mặt; những nhân vật như Lê Chí Quang vẫn trong vòng kiểm soát, Điếu Cày còn gần chục năm tù, Anh Ba Sàm chắc sẽ phải tù lâu, còn Bùi Hằng “hoa hậu biểu tình” sắp hầu tòa, v.v.

Quan sát như thế và lại nghe thấy “Thoát Trung”, những người Trung Hoa dân tộc chủ nghĩa không thể không nộ khí:

“Chúng mày đang bị chính chúng mày trói chân, trói cả tay cả đầu, thế mà vẫn còn hùng hổ 'Thoát Trung'. Ai cho thoát? Thoát đi đâu? Ngàn đời còn khổ các con ạ!”

Đó có thể là tưởng tượng phóng đại, quá khích, ác khẩu. Nhưng không thể lấy một chủ nghĩa dân tộc mù quáng để chống lại một chủ nghĩa dân tộc (lớn hơn nhiều) cũng mù quáng. Không thể tìm kiếm công lý, an bình cho dân tộc mình bằng sự trí trá, chà đạp một công lý khác.

Luồn vào chính sách uốn éo của cường quyền lệ thuộc phản trắc để đối phó với xâm lăng sẽ vừa vô ích, vừa rót thêm hoang mang vào lầm than của dân chúng, vừa dễ mắc bẫy, lại vừa bị người ta cười. Tất nhiên, không ai cười thành tiếng.

-Việt Nam phải câm lặng, chịu mất Biển Đông?- ○

(Còn tiếp)

Bài đọc thêm:




[i] Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự Thật, 10/1979, trang 28, 98, 101.
[ii] Triết gia quân sự Carl von Clausewitz (1780-1831) đã phát biểu (được dịch ra Anh ngữ): “War is the continuation of policy by other means. It is not only a political act, but also a true political instrument.”, Martina Sprague, Lessons in the art of war, Tuttle Publishing, 2011, trang 06.
[iii] Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự Thật, 10/1979, trang 94.
[iv] Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự Thật, 10/1979, trang 47.

Thứ Ba, 3 tháng 6, 2014

Câu hỏi của hậu thế

Phạm Hồng Sơn

Bertrand Russell (1872-1970) trí thức quí tộc người Anh, thuộc số những bộ óc vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Suy tư của ông đi sâu vào nhiều địa hạt tri thức của nhân loại như toán học, luận lý học, triết học, phản biện xã hội*, v.v. Đương thời Russell còn là một trí thức dấn thân, một nhà hoạt động nhiệt thành vì hòa bình, chống vũ khí hạt nhân. Đặc biệt, Russell quyết liệt chống sự can dự của Hoa Kỳ, cũng như phương Tây, vào cuộc chiến tại Việt Nam. Năm 1965 Russell công khai xé toạc tấm thẻ Đảng Lao Động (Labor Party) mà ông đã gắn bó trên 50 năm chỉ vì ông hồ nghi chính phủ Anh đương thời (do Đảng Lao Động lãnh đạo) có dự định đưa quân tham chiến Việt Nam. Năm 1966 Russell, cùng với Jean-Paul Sartre –triết gia Pháp, thành lập một tổ chức riêng gọi là “Tòa Án Russell” để vận động chống Hoa Kỳ tham chiến, tố cáo tội ác chiến tranh của phía phương Tây tại Việt Nam.

Cho tới nay tính đúng-sai, khách quan-thiên lệch hay thiển cận-viễn kiến của Russell trong cương vị một nhà hoạt động chống chiến tranh Việt Nam có thể còn là một đề tài bỏ ngỏ nhưng khó có thể phủ nhận sự thành thật, triệt để của nhà hoạt động xã hội Bertrand Russell.

Người như Russell, đương nhiên, phải được (bị) chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các trí thức đi theo đảng cộng sản nhận là “người bạn” quí. Cách đây không lâu, một số tờ báo của Việt Nam vẫn còn nhắc đến “người bạn của chúng ta” – Bertrand Russell – một cách rất trân trọng.

Tờ Tia Sáng, tạp chí của Bộ Khoa học và Công nghệ, với nhóm cộng tác viên có những cái tên vang tiếng như Hoàng Tụy, Phạm Duy Hiển, Tương Lai, Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Sĩ Dũng,…, ra ngày 15/05/2014, hai tuần sau sự kiện Giàn khoan Haiyang 198 xâm phạm chủ quyền Việt Nam, đăng lại một bài viết đã công bố năm 1988 của giáo sư Hà Văn Tấn, Lịch sử, sự thật và sử học, trong đó có đoạn: “…Ngay người bạn của chúng ta là Bertrand Russell cũng nói rằng:’Sử học chỉ là dẫn ra những ngu xuẩn ngày hôm qua để giúp con người chịu đựng được những ngu xuẩn ngày hôm nay.’” Tháng 3 trước đó, Xưa & Nay, tạp chí của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, cũng đăng lại bài viết vừa kể với câu trích đầy ấn tượng vừa dẫn[i]. Nhưng cả hai tờ tạp chí không nói tới hành động ly khai chính trị của Bertrand Russell.

Trong nhiều năm qua ở Việt Nam cũng xuất hiện nhiều trí thức, như Bertrand Russell, ngoài chuyên môn, còn dấn thân cho các vấn đề chính trị, xã hội, đặc biệt là vấn đề chủ quyền quốc gia bị Trung Cộng xâm hại. Nhìn vào các cuộc xuống đường, các vận động xã hội, các chữ ký trong các thỉnh nguyện thư, thường rộ lên sau mỗi cuộc gây hấn của Trung Cộng, có thể thấy nhiều người vừa là giáo sư, tiến sỹ hoặc thạc sỹ, nhà nghiên cứu, nhà văn lãnh đạo,… lại vừa là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự kiện Giàn khoan Haiyang 981 đang diễn ra chỉ là một dấu mốc mới nhất trong hành trình Bắc thuộc hóa Việt Nam trên 60 năm qua:

Chiến dịch Biên giới 1950-Hiệp ước Genève 1954-Công hàm Phạm Văn Đồng 1958-Hoàng Sa 1974-Gạc Ma 1988-Thành Đô 1990-Hiệp ước biên giới 1999-Hiệp định vịnh Bắc Bộ 2000-Tam Sa 2007-Bauxite Tây nguyên 2007-Cho thuê rừng đầu nguồn 2010-Cắt cáp 2011-Giàn khoan Haiyang 981.

Nhìn một cách khác, những dấu mốc có tính tượng trưng này sẽ khoát ra hình ảnh một chiếc thòng lọng nhiều tròng, có lõi là Đảng Cộng sản Việt Nam, đang ngày càng thít chặt vào dân tộc Việt do một bàn tay kéo là Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Lẽ tự nhiên, người Việt Nam yêu nước, cùng nhiều trí thức đảng viên cộng sản, sẽ còn dấn thân, lên tiếng, thỉnh cầu, kiến nghị hoặc sẽ làm nhiều việc khác trước nguy cơ diệt vong, Bắc thuộc đang cận kề. Cũng không loại trừ khả năng toàn ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam lại sẽ gióng giả hiệu triệu “chống quân xâm lược bành trướng Bắc Kinh”. Những việc như thế chắc chắn đang và sẽ được ghi lại rất chi tiết để dòng giống người Việt mai hậu biết được người Việt hôm nay đã làm gì, đã can đảm, nguy nan, vất vả ra sao trong việc lên tiếng, gìn giữ giang san, chống trả những âm mưu vừa xảo quyệt vừa quyết liệt của giặc trong lẫn giặc ngoài. Nhưng rất có thể những con người của ngày mai lại hỏi: “Khi nước nhà đã lâm nguy như thế, quí ông, quí bà đã không làm gì?”○


Bài liên quan:



*Cáo lỗi và đính chính: chữ "phản biện xã hội" đã được thay cho "xã hội học" (trong bản đăng đầu tiên), vì Bertrand Russell là người tích cực tranh biện các vấn đề xã hội đương thời hơn là người nghiên cứu hay đề ra lý thuyết về sự tương tác của con người trong xã hội. 8:45 giờ Hà Nội 05/06/2014.


[i] Tôi (PHS) không chắc chắn câu trích dẫn này là của Bertrand Russell.



Thứ Hai, 13 tháng 8, 2012

Muốn có tự do phải chủ động


Suốt mấy ngàn năm qua Việt Nam đã từng bị phương Bắc xâm lấn, thôn tính rất nhiều lần nhưng chưa bao giờ tình trạng lại như hiện nay: Xâm lấn mà như không xâm lấn, thôn tính mà như không thôn tính, nước mất mà như chưa mất, dân muốn phản đối quân xâm lược phương Bắc lại bị chính quyền ngăn cấm,…Tuy nhiên nếu chỉ bức xúc, căm phẫn sự ngang ngược, thâm độc của quân xâm lược hay mắng mỏ sự nhu nhược, trắng trợn của kẻ bán nước thì cũng không khác gì ngồi mắng chửi quân bất lương: “Sao ngươi lại vô lương thế?” Trong một bài gần đây, tác giả Hà Sỹ Phu đã viết: “Nếu phía quyền lực đã dùng phương pháp che đậy, ngụy trang, mơ hồ, chung chung…mà phía phản biện cũng chơi đúng theo cách ấy thì thua! Trong bóng đá người ta bảo thế là “bị áp đặt lối chơi”, phải hết sức tránh.” Suy cho cùng, mọi sự thụ động và phụ thuộc trong các cuộc đấu tranh giành tự do đều không thể dẫn đến tự do, dù là cuộc chiến giữa quốc gia-kẻ xâm lược hay cuộc đấu giữa nhân dân-chính quyền độc tài. Như Cây Tre Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết vừa nói:


Giải “Cộng” nhi thoát ! ( 解共而 脱 Bỏ Cộng sản thì thoát)                                                        

Hà Sĩ Phu


Trong “Thư gửi người đang yêu” nhà văn Phạm Đình Trọng đã nói với những bạn bè còn vương vấn chút “yêu đương” với Chủ nghĩa Cộng sản, rằng chủ nghĩa Cộng sản mà học thuyết Mác-Lê vạch đường là một chủ nghĩa sai lầm, chỉ gây ra tội lỗi với đất nước, không thể sửa chữa mà chỉ có cách duy nhất là xoá bỏ tận gốc.

Có một thực tế là trong nước cũng không ít người đã suy nghĩ  gần giống như vậy nhưng còn đắn đo chưa nói hết ra thôi. Nhưng kẻ xâm lược đâu có chờ ta, chúng cứ khẩn trương lấn tới, ngày một nguy hiểm. Nay quân xâm lược đã riễu binh đến sát cửa nhà, thậm chí vào rất sâu trong nội tình, nội địa.Trước tình hình ấy, nhiều Blogger đã bày tỏ ý kiến rốt ráo quyết liệt hơn trước. Tôi xin liên kết nhiều ý kiến về lý luận và thực tiễn đã có trên công luận, từ gốc đến ngọn, nói gọn lại cho rõ ràng hơn.

1/ Nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lê đã xong về LÝ LUẬN:

Chủ nghĩa Mác-Lê [1] là một lý thuyết muốn làm điều tốt nhưng nội dung tư duy lại phi khoa học, hoang tưởng, nên sau những phấn khích ban đầu, cuối cùng chỉ tạo ra những xã hội phi lý, đảo ngược luân thường, kìm hãm và phá nát xã hội, tạo những cơ hội bằng vàng cho những kẻ cơ hội chính trị lợi dụng nhảy lên thành những bạo chúa mới, và gây những tai hoạ cực lớn cho nhân loại, vì thế cần phải vứt bỏ.

Trải hơn một thế kỷ và trên phạm vi toàn nhân loại, đến nay nhận thức khoa học đào thải chủ nghĩa hoang tưởng ấy đã hoàn tất. Quanh vấn đề phê phán chủ nghĩa này bây giờ nói gì cũng chỉ là lặp lại ( hoặc nhai lại) những điều đã giải quyết xong. Với một chân lý đã hiển nhiên thì mọi lý luận dài dòng đều là thừa. Chân lý đã có ( căn cứ vào nhân loại văn minh) thì mặc nhiên sử dụng đâu cần chứng minh lại? Chân lý nằm ở cộng đồng nhân loại 200 nước, trong đó có tất cả những những nước tiêu biểu nhất cho tri thức nhân loại, hay nằm ở 4 nước Cộng sản tàn dư đang cố biến thái để tồn tại?
Với người có tim óc bình thường, chân lý ấy khỏi cần bàn cãi. Còn với những luận điểm “chày cối” thì vấn đề lại sang một bình diện khác, không còn ở lý luận khoa học, càng lý luận khoa học bao nhiêu lại càng vô ích bấy nhiêu.

2/ Vấn đề Mác-Lê chưa xong trong thực tế Việt Nam.

Mặc dù chân lý đã hiển nhiên, nhưng ở Việt Nam, với 3 “típ” người này thì chân lý ấy vẫn cứ “có vấn đề” để tranh cãi mãi không dứt:

- Những người quá yếu về tư duy khoa học nên lạc hậu về nhận thức,  
- Những người có tư duy nhưng còn nặng duy cảm hơn duy lý, nên lúng túng chưa biết xử lý ra sao với gánh nặng tình nghĩa và di sản trong quá khứ
- Những kẻ cố tình cãi chầy cãi cối vì mục đích duy lợi.

Tổng số 3 “típ” người này đang còn rất đông và còn chi phối xã hội, nên trong thực tế câu chuyện Mác-Lê chưa thể chấm dứt.

Tùy theo mức độ và động cơ khước từ chân lý mà họ có thể còn những nét đáng yêu, đáng thông cảm, hoặc đã thành đáng trách, đáng giận, hoặc đáng ghét.Với những trường hợp ấy hoặc chỉ cần nói ngắn gọn, chỉ nói vào những chuyện thực tế, hoặc phải ứng xử bằng cách khác, tuyệt nhiên không cần lý luận bài bản dài dòng như một đề tài triết học chuẩn mực cho phí công.

Lại có người suy nghĩ đơn giản : Chính ĐCS ngày nay thực chất có theo Mác-Lê  nữa đâu, ta nói Mác-Lê nữa làm gì? Xin thưa, ĐCS chỉ bỏ một phần trong “Mác Kinh tế” thôi, đâu có bỏ lề lối chuyên chính Mác-Lênin-Staline trong hệ thống chính trị? ĐCS còn cần đến Mác-Lê cả về danh nghĩa lẫn nội dung.

Chủ nghĩa Mác-Lê (và dẫn xuất là tư tưởng Hồ Chí Minh) vẫn là cơ sở để một đảng CS độc quyền có thể tồn tại, vẫn là yêu cầu có tính chất sinh-tử để duy trì một xã hội với nhiều điều ngang trái như hiện nay, mất nó điều 4 Hiến pháp sẽ không có lý do tồn tại, đảng phải giữ nó như giữ con ngươi của mắt mình chứ không phải chỉ là cái vỏ hờ bên ngoài. Có điều là cái mà người ta cần đặt lên bàn thờ để sử dụng chưa hẳn đã là cái người ta coi là thiêng liêng (như sẽ nói thêm ở phần sau).

Thực chất khẩu hiệu “Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” không phải  nhằm cái đích XHCN xa xôi mà ai cũng biết là không có thật, mà phải hiểu một cách thiết thực đó là “Kinh tế thị trường kiểu Cộng sản”. “, tức là quá trình“tư bản hóa theo những bài bản có lợi nhất mà giới CS chóp bu độc quyền mong muốn ”, là dùng chuyên chính Vô sản độc tôn để độc quyền tích lũy tư bản, không loại trừ quyền buôn bán tài nguyên và lãnh thổ quốc gia. Chừng nào quá trình tư bản hoá ấy đã xong thì cái vỏ Mác-Lê sẽ hết tác dụng, và buộc phải hết tác dụng, nếu không thì những nguyên lý “có áp bức thì có đấu tranh” và “đào mồ chôn Tư bản” sẽ quay ngược mũi dùi vào chính giai cấp Tư bản đỏ do Mác-Lê đẻ ra.

3/ Vua đã cởi truồng, dân làm sao còn giữ “Lễ” ?

Tại sao sự giả dối lại phát triển thành căn bệnh phổ biến và trầm kha như hiện nay?

Một chủ nghĩa phi khoa học lại muốn được mọi người tôn vinh là duy nhất khoa học để cả xã hội tuân theo thì đương nhiên phải lừa bịp, kết hợp với bạo lực áp đặt. Nhưng trong hai biện pháp đó thì cách lừa bịp, nguỵ biện, giả khoa học để ngụy tạo sự “tự nguyện” mới là chủ yếu, là sở trường, còn bạo lực với nhân dân chỉ là phương án 2, phương án bất đắc dĩ. 

Nhưng sang giai đoạn mạt kỳ, thực tế đã phơi bày hết thảy, sự mị dân mất tác dụng, thì phương án 2 dần trở thành chủ yếu, các ĐCS phải bỏ sở trường dùng sở đoản là dùng bạo lực với nhân dân. Uy tín không còn, chính danh không còn, ngai vàng còn giữ được nhờ hết vào đội KIÊU BINH khổng lồ, rải khắp hang cùng ngõ hẻm.

Công an thì ngang nhiên tuyên bố “chỉ biết còn Đảng còn mình”, quân đội chẳng những tuyên thệ trung với Đảng mà còn tuyên bố nhân dân nào theo đảng mới được coi là nhân dân! Tóm lại, dưới gầm trời Việt Nam thì công an, quân đội đã là của đảng mà dân cũng là của đảng luôn (nếu không chấp nhận điều ấy thì thành thù địch). 

Kiêu binh vừa gắn chặt với Đảng của xã hội đỏ lại vừa công khai đi sóng đôi với côn đồ của xã hội đen trước thanh thiên bạch nhật, kiêu binh thản nhiên làm điều vô pháp luật, luật là tao, tao thích bắt là bắt cần gì phải lệnh, kiêu binh đánh chết người nếu thích, kiêu binh sẵn sàng văng cả đồ dơ vào mặt những vị đương quyền tối cao của họ nếu cần thiết…, khi kiêu binh đã muốn ra oai với dân thì mặt mũi các quan đương triều cũng chẳng là cái đinh gì, vì họ thừa biết lúc này ai đang cần đến ai?

Phơi hết sự tàn bạo bất cận nhân tình không cần che đậy, đấy là sự tự bóc trần, tự “khoả thân chính trị” của chế độ chuyên chính trong nước. Đồng thời, sự chuyên chính trong thế giới Cộng sản với nhau cũng “khoả thân” luôn không che đậy: việc chính thức thành lập thành phố biển Tam Sa với đầy đủ quy chế hành chính và quân sự, việc kêu gọi đầu tư ngay trong thềm lục địa đương nhiên của Việt Nam, đưa 23.000 tàu đánh cá tràn vào vùng biển Việt Nam…đã tự lột trần cái bản mặt giả dối của chủ nghĩa quốc tế Cộng sản đến mức không còn một chút lá nho, cả những 16 chữ vàng, quan hệ 4 tốt, và cuộc thi ca khúc Việt-Trung và lời kêu gọi tri ân kẻ xâm lược cũng trở nên trơ trẽn, hèn hạ không thể chấp nhận. Làm những điều quá hạ sách ấy, cả thế giới Mác-Lê như muốn thách thức công luận rằng “ông vô lý, ông tàn bạo, ông ngang ngược thế đấy, ông cứ làm trái ý dân, cứ làm trái công pháp quốc tế thế đấy làm gì được ông”? .

Thế là Vua đã cởi truồng tồng ngồng giữa phố như trong truyện ngắn Andersen mà hết thảy vẫn cứ đeo mặt nạ để ca ngợi bộ áo choàng quang vinh vô địch muôn năm ! Thực chất chế độ Cộng sản chỉ là một chế độ phong kiến biến tướng [2], nên suốt nửa thế kỷ nay, dù oan ức đến mấy người dân vẫn phải cư xử, ăn nói nhỏ nhẹ cho phải đạo, nói có chỗ dù không bao giờ được trả lời, chỉ nói râu ria cấm nói vào chỗ phạm. Ngay cả khi có báo chí “lề trái” ở trong nước thì lúc đầu cũng chỉ dám nói vào những việc cụ thể, không chạm đến Đảng, nếu muốn chạm đến gốc rễ của chủ nghĩa và lãnh tụ thì nói theo kiểu “ám chỉ” xa xôi nhưng ai cũng hiểu…Tất cả những sự đeo mặt nạ giả dối ấy chẳng qua là giữ LỄ trong một thể chế phong kiến cho phải đạo, ăn nói ra vẻ cung kính nể nang nhưng trong lòng đã hết tin yêu rồi.

Trò xiếc dối trá lẫn nhau, cố giữ bộ mặt đúng quy cách ấy không thể kéo dài mãi. Phía vua quan đã “khoả thân tới số” thì dân chúng còn cung kính giả vờ sao được? Dùng súng hoa cải uy hiếp kẻ cưỡng chế đất, bắt nhốt Công an để hỏi cung, phụ nữ liều mạng khoả thân để giữ đất…vânvân…là những hành động “phá cách”! (Nhưng mẹ con bà Lài đã lầm, cái giới hạn nhân cách truyền thống mà bà tưởng là ranh giới phòng vệ cuối cùng thì trong thế giới của những Nguyễn Trường Tô-Hô đâu có giá trị gì?).

Đến giai đoạn này thì các Blogger trong nước cũng không giữ Lễ nữa: không cần ám chỉ mà kể thẳng tên người tên việc dù là thủ tướng hay tổng bí thư, hay Bộ Chính trị. Mác-Lê không còn là điểm nhạy cảm phải kiêng, lại còn nghi ngờ rằng Đảng và nhà nước có định chống xâm lược thật không (hay đã đồng tình với giặc xâm lược?), coi chính quyền chỉ là một đám cướp lớn phản động đã rõ ràng …

Một Blogger tối thân cận với trùm chuyên chính Vô sản đã gọi Hồ Chí Minh là ”Ku Nghệ” mà không bị khiển trách thì đủ biết trong hậu trường họ đối với cụ Hồ cũng chẳng thành kính gì. Lại xuất hiện Blog quanlambao (là tiếng nói của nội bộ Đảng, phe Chỉnh đốn đảng chống phe Tham nhũng) chửi thẳng như tát nước vào mặt đương kim Thủ tướng còn hơn đánh kẻ thù mà không bị trừng trị.

Những ranh giới cũ đã bị phá hết. Một giai đoạn đối thoại mới, bằng ngôn ngữ khác trước, đã bắt đầu. Phía Đảng và nhà nước đã dùng “NGÔN NGỮ” mới (gồm cả ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ hành động) thì nhân dân cũng dùng “ngôn ngữ” mới tương xứng. Vua đã cởi truồng, sao Dân còn giữ Lễ mãi được? Tinh thần nói đúng sự thật, nói hết sự thật đang sang một chất lượng mới..

Cuộc đối thoại mới đã bớt đi rất nhiều mặt nạ phù phiếm để đến gần với sự thật hơn, bổ ích hơn, khẩn trương hơn, hiệu quả hơn. Những lời mạn đàm này gửi đến bạn bè cũng trên tinh thần mới và ngôn ngữ mới ấy.

Một khía cạnh khác của nhu cầu nói thật là nhu cầu về phương pháp. Nếu phía quyền lực đã dùng phương pháp che đậy, nguỵ trang, mơ hồ, chung chung…mà phía phản biện cũng chơi đúng theo cách ấy thì thua! Trong bóng đá người ta bảo thế là “bị áp đặt lối chơi”, phải hết sức tránh. Lúc đầu nói thật quá e sẽ bị quy chụp nên phải thủ thế, nhưng nay đã khác.  

4/ Tình hình đã quá chín muồi cho một cuộc xâm lược.

Khi Trung quốc chính thức thành lập thành phố Tam Sa (gồm 2 quần đảo HS và TS của Việt Nam) và đưa 23.000 tàu đánh cá vào vùng biển VN nhiều người gọi hành động ấy là liều lĩnh và lấy làm ngạc nhiên Thực ra không đáng ngạc nhiên và Trung Quốc không hề liều lĩnh khi đã thiết kế chiến lược một cách vững chắc và tính toán cụ thể chắc ăn trăm phần trăm.

Do vị trí địa-chính trị nên Việt Nam trở thành cửa ngõ mà chủ nghĩa Đại Hán buộc phải chiếm lĩnh để bành trướng về phía nam, nhưng Việt Nam trước đây đã kiên cường và mưu lược, phá tan mộng xâm lăng ấy của Trung Quốc.

Bất hạnh thay, sự xuất hiện trào lưu Quốc tế Cộng sản hoang tưởng đã cung cấp cho Trung Quốc một cơ hội bằng vàng. Họ tận dụng những đặc trưng của Cộng sản để đưa con mồi vào lưới. Con mồi tự tìm đến cái bẫy, nhưng bị tấm màn “Quốc tế đại đồng” che mắt, nhìn cái bẫy thành chốn ruột thịt nương thân. Những năm 1949-1950 khai thông biên giới Việt Trung, một VN đã kiệt lực buộc phải dựa hẳn vào Trung Quốc để có sức đánh nhau với Pháp, những món hàng viện trợ từ vũ khí, quân trang quân dụng đến nhu cầu dân sinh là khởi đầu những trói buộc có tính chiến lược, là sợi dây thòng lọng đầu tiên, tận dụng những quan hệ thân thuộc của những người lãnh đạo đã có với Trung Quốc làm sợi dây liên kết. 
                                                                                
Cái thòng lọng thứ hai là do chuyến ngoại giao cầu hòa của Việt Nam diễn ra tại Thành Đô ngày 3-4/9/1990. Xét trong quan hệ có tính lịch sử giữa 2 kẻ thù truyền kiếp thì cuộc cầu hòa này chính là cuộc tuyên bố đầu hàng. Với hiệp ước Thành Đô (nhất định lịch sử sau này sẽ bạch hoá) Trung Quốc đã tẩy rửa được dấu vết chống Trung Quốc của Việt Nam tượng trưng bởi ý chí chống Tàu cứng rắn của Tổng Bí thư Lê Duẩn và cuộc chiến biên giới 1979. Sau hội nghị Thành Đô kế hoạch xâm lược đã thiết kế xong những nước cờ căn bản.

Từ đấy trở đi, chỉ cần 4 năm một lần Trung Quốc khống chế người cầm đầu Việt Nam , tức Tổng Bí thư đảng, là đủ cho kế hoạch xâm lược tiến hành trôi chảy. Muốn vậy phải giữ cho Việt Nam yên vị theo chế độ Cộng Sản, không được dân chủ hoá, không được liên kết chiến lược với Hoa Kỳ.

Kết quả của chủ trương liên kết chiến lược với Trung Quốc và liên kết lửng lơ với Hoa Kỳ là đã tạo những “điều kiện cần” và “điều kiện đủ” cho cuộc thôn tính Việt Nam một cách hoà bình. Điều kiện “cần” là một bộ máy lãnh đạo Việt Nam phải là bộ máy thân thiện Trung Quốc, không coi Trung quốc là xâm lược, đồng thời nhân dân  Việt Nam thì tinh thần bạc nhược, không quan tâm đến sự đe doạ của Trung quốc, chấp nhận để “Đảng và Nhà nước lo”. Điều kiện “đủ” là làm sao khống chế được sự phản kháng của lực lượng tinh hoa là những người Việt còn giữ được sự cảnh giác và lòng quyết tâm bảo vệ đất nước, không cho họ đánh thức được dân chúng, đồng thời Hoa Kỳ và quốc tế không can thiệp.

Khi ĐCSVN đã cam kết với ĐCS TQ thực hiện đủ những điều kiện ấy, thì (xin lỗi) chỉ một Trung Quốc ngu mới không tiến hành xâm lược Việt Nam.

Giữa lúc quân xâm lược kéo binh mã rầm rập vào trong biên cương Tổ quốc mà các thủ lĩnh tối cao thì im phăng phắc, nhưng ra lệnh cho khắp nơi  hát vang lời hữu nghị và tri ân, cho tướng lĩnh đứng ra tay bắt mặt mừng, và ra sức bắt giữ những người phản đối xâm lược! Cảnh tượng diễn ra như một trận công thành được chuẩn bị chu đáo, có  nội công, vô hiệu hóa lính gác, vô hiệu được quân lính trong thành, lại tổ chức sẵn một đội kèn trống chào mừng, nghênh đón sứ quân của thiên triều. Tất cả như có sự phân công, phối hợp trong ngoài vậy. Chẳng trách người dân phải đặt thẳng sự nghi ngờ vào lòng dạ của người cầm vận mệnh đất nước:

“Nguy cơ mất nước là hoàn toàn có thật. Đến lúc này nhân dân buộc phải hỏi:  Đảng và Nhà nước có thực sự muốn chống xâm lược không?

(Cả đến việc thông qua Luật biển, làm nức lòng nhiều người , nhưng tiến hành song song với những động tác ve vãn kẻ xâm lược và cấm dân biểu tình thì có đáng tin không hay chỉ là “đánh trận giả” để đánh lừa dân chúng, giúp kẻ địch tiến thêm một bước nguy hiểm?).

Thiên vạn cổ chưa có trận chiến nào được bố trí vẹn toàn như thế, sao lại bảo cuộc tấn công ấy là liều lĩnh được? Chiến thắng trong tầm tay, an toàn 100% như thế mà không tiến công thì Trung Quốc ngu à?.

5/ Giải Cộng nhi thoát! Có từ bỏ Mác-Lê cùng với cái gọi là XHCN mới cứu được nước!

Xem như vậy thì suốt từ 1950 tới nay (2012), tất cả những thiết kế chiến lược và thực thi từng bước chiến thuật cho sự thôn tính Việt Nam kiểu mới của Trung Quốc đều phải dựa trên một nhân tố trung tâm và quán xuyến là đảng Cộng sản, thiết chế Cộng sản, và quan hệ Cộng sản. Việt Nam nếu không là Cộng sản thì Trung Quốc hoàn toàn bó tay.

Vậy, theo lô-gích, đáp số của bài toán phòng thủ đất nước trước nạn Tân Bắc thuộc đã hiện ra rõ mồn một. Một Việt Nam 90 triệu dân, dân chủ pháp quyền phi Cộng sản, có bầu bạn khắp năm châu, chẳng có lý gì phải nằm trong vòng tay “ôm ấp” của Trung Quốc thì anh bạn khổng lồ xấu tính buộc phải nhớ đến những Chi lăng, Bạch đằng, Đống đa mà chìa bàn tay hữu nghị giao thương với sự bình đẳng và kính nể.

Truyện kể rằng: Tướng nhà Minh Lưu Bá Ôn vào thăm mộ Khổng Minh, mặc giáp sắt khi đi qua cổng lát bằng  nam châm liền bị hút chặt xuống đất. Lưu Bá Ôn đang luống cuống bỗng ngước nhìn lên thấy một bức hoành trên đề bốn chữ "Giải y nhi thoát" (Cởi áo ra thì thoát) bèn làm theo …

Nay chủ nghĩa Mác-Lê đối với ĐCSVN cũng chỉ như chiếc áo giáp sắt, mặc vào là bị thanh nam châm khổng lồ Trung quốc hút chặt, không ngẩng lên được. Giải Cộng nhi thoát , là cách tự cứu duy nhất, đẹp lòng dân tộc, và vẹn cả đôi đường.


KẾT LUẬN : GIỜ NGUY BIẾN ĐÃ ĐIỂM !

1/ Trước mắt, muốn cứu nước, dân ta cần phá cho được cái chiến lược “diễn biến hoà bình” trong quan hệ Trung-Việt, mà thực chất là xâm lược hoà bìnhlàm mất nước một cách hoà bình! Họ muốn đô hộ một nước khác mà không cần gây một cuộc chiến tranh xâm lược, kế hoạch thật là thâm độc!

Chiến lược xâm lược hoà bình này do nhà cầm quyền Tân Đại Hán khởi thảo và áp đặt, ĐCSVN tự sa vào thế kẹt buộc phải làm theo. Hai đảng thoả thuận kín, quyết định số phận của Việt Nam là nước nhỏ hơn, nhân dân cả hai nước đều được sử dụng như những công cụ.

Chỉ có nhân dân Việt Nam mới giúp được ĐCSVN ra khỏi thế bị kìm kẹp này. Nhưng muốn vậy ĐCS phải dũng cảm chịu đau một chút, khiêm nhường một chút, giảm đi một chút lòng “kiêu ngạo cộng sản” vô lối,  để thừa nhận nhân dân, để “lột xác”, thoát khỏi chủ nghĩa hoang tưởng phản tiến hoá để trở về với dân tộc, tìm lại sự vinh quang chính đáng trong niềm kiêu hãnh chung của cả dân tộc.  

Bằng sự gặm nhấm của chiến lược Việt-Trung hữu hảo diễn biến hoà bình, “cái ổ chim đại bàng” mà tổ tiên ta gây dựng đang từng ngày từng giờ chật hẹp dần lại một cách toàn diện, thành “cái tổ con chim chích” như vua Trần Nhân Tông đã lo trước nhiều thế kỷ. Hoạ mất nước đã nhỡn tiền!

Không nhân dân nào thích chiến tranh, nhưng lời QUYẾT CHIẾN, chứ không HÒA, của Hội nghị Diên Hồng là vết son trong lịch sử. Hoà bình là quý, nhưng hoà bình để mất nước êm như ru là thứ hoà bình đáng nguyền rủa, không thể so với sự diễn biến hoà bình để tự chuyển hóa thành một nước dân chủ văn minh, chính là thứ hòa bình công chính và kiêu hãnh, không kẻ nào chống được.

2/ Về căn bản và lâu dài , xuất phát từ nhu cầu xây dựng đất nước cũng như từ yêu cầu bảo vệ đất nước khỏi hiểm họa Bắc thuộc, xã hội Việt Nam phải từ giã ảo tưởng Cộng sản, trở về một chế độ dân chủ lành mạnh thông thường như các nước văn minh, không có con đường nào khác. Chừng nào còn giữ chế độ gọi là “Xã hội chủ nghĩa” bên cạnh anh Cộng sản khồng lồ Trung Quốc, thì hoạ mất nước là thường trực.

Có thể ĐCSVN lường trước bước thứ hai này nên nghi ngờ và cấm người dân biểu tình chống Trung Quốc xâm lược ?.
Tôi nghĩ mọi việc hoàn toàn trong sáng, không có gì thủ đoạn ở đây. Cần nói thật với nhau rằng việc trước mắt cũng như lâu dài đều đòi hỏi phải tháo vòng Kim-cô chuyên chính Vô sản, nhưng tính chất hai việc khác nhau xa. Kẻ xâm lược là giặc đến từ bên ngoài, cần phải làm cho họ thất bại trong âm mưu đó, việc ấy phải làm ngay không thể trần trừ, hoàn toàn không giống với quan hệ người trong một nước với nhau, quan hệ được cố kết bởi tình yêu Tổ quốc ngàn đời thiêng liêng, để cùng xây dựng một đất nước văn minh là điều hoàn toàn có thể thực hiện được, mà nước Đức là một tấm gương đầy thuyết phục.
                                                                                              H.S.P (9-8-2012)
==========================================================
[1] Sai lầm gốc từ Mác nhưng phải cộng với Lênin mới thành một thể hoàn chỉnh về chính trị và lan rộng ra thế giới.



                                                      PHẦN VIẾT THÊM
    Cần thoát khỏi một vài nguỵ biện và những suy nghĩ tự trói buộc 

* Nhiều đảng viên rất lo ngại cho hiện tình xuống dốc và bất lực của đảng hiện nay, nhưng băn khoăn trước câu hỏi: Đảng không ưu việt sao đánh được Pháp, được Mỹ? Đảng cũng làm được nhiều việc tốt đấy chứ? Ba triệu đảng viên hầu hết là tốt thì đảng sao lại xấu được? Xin nêu tóm tắt mấy ý góp phần giải đáp:

- Mác-Lê vào được Việt Nam là do tháp tùng lòng yêu nước, những thành tựu có được là do tựa vào sức mạnh yêu nước của dân tộc mà có. Ở đâu và khi nào nhân tố chuyên chính vô sản phát huy tác dụng, lấn át truyền thống dân tộc, thì ở đó, khi đó, phát sinh sai lầm và tổn thất.
- Cái tốt chủ yếu ở giai đoạn đầu, khi cầm quyền là bắt đầu thoái hóa, càng củng cố được quyền lực thì càng thoái hoá, càng về sau càng thoái hóa. Muốn lấy lại thiện cảm thì phải “ăn mày quá khứ”.
- Cá nhân đảng viên có thể tốt, nhưng đứng trước tổ chức thì những cái tốt cá nhân bị vô hiệu hoá. Tổ chức Cộng sản là phép cộng những “số dương” thành một “số âm”, sử dụng rất nhiều người tốt để thực hiện một điều huyễn hoặc, không tốt. Càng lên trên thì tính “bản thiện” của con người càng bị tính chuyên chính sai lầm của tổ chức lấn át, cho nên càng lên trên càng tiêu cực. Tham nhũng độc quyền ghê gớm nhất đều ở cấp cao. Chính gương tốt, liêm chính, của các đảng viên ở cơ sở là tấm bình phong che cho tội lỗi của cấp cao
- Bởi là người tốt, người yêu nước, nhưng bị dòng lịch sử cuốn vào một trào lưu huyễn tưởng nay đã bị lịch sử đào thải, thì mỗi người đảng viên cộng sản đều phải chọn một trong hai sự “phản bội” không thể thoái thác: hoặc cứ nhắm mắt theo chủ nghĩa thì phản bội dân tộc, hoặc đặt dân tộc lên trên thì sẵn sàng từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê ảo tưởng, đó là sự từ bỏ, sự “phản bội” đáng ca ngợi.

* Một nguỵ biện nhằm chống biểu tình:

Người dân muốn biểu thị quyết tâm chống xâm lược, bảo vệ đất nước thì phương pháp truyền thống ở mọi quốc gia là BIỂU TÌNH. Muốn giúp cho quân xâm lược khỏi bị làm phiền thì nhà cầm quyền Việt Nam hứa với họ là kiên quyết cấm dân VN mình biểu tình. Nhưng không thể công khai cấm biểu tình (vì cấm là phi lý và thất nhân tâm) thì cấm những gì liên quan không thể tách rời với biểu tình là đi đông người trên phố, bèn quy tội là gây rối trật tự, ảnh hưởng đến giao thông. Đây là nguỵ biện dùng “mẹo Trạng Quỳnh”: nếu không thể cấm ỈA thì cấm ĐÁI, không được đái thì làm sao mà ỉa? Thế là không cấm biểu tình mà dân không biểu tình được.

Nhà nước ta quả là nhiều sáng kiến và tận tâm với bạn vàng xâm lược. Nhưng xin thưa điều quy kết này là bậy bạ và phạm pháp. Đường xá là của toàn dân, người dân được sử dụng để đi lại thông thường và đi lại trong những việc đông người chính đáng: đám cưới, đám tang rất cản trở giao thông, đón rước, hội hè rất cản trở giao thông…thì giao thông tạm ngừng một thời gian ngắn, có sao đâu? Biểu tình bảo vệ Tổ quốc còn chính đáng và quan trọng hơn mọi sinh hoạt khác, giao thông phải tạm dừng để phục vụ biểu tình cũng là chính đáng, huống chi lèo tèo vài trăm người thì cản trở nỗi gì? Mẹo “cho Ỉa nhưng cấm đái” này sẽ còn phát huy nhiều ngụy biện xảo trá khác nữa, nhưng nhân danh một “Chính” quyền mà dùng mẹo bẩn như vậy thì còn “chính” nữa không?
9/8/2012 -HSP-

(Bài nhận từ tác giả. NCTVN biên tập)

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

Một bài viết “phản động” cách đây 5 năm


Khoảng tháng 11 năm 2007, nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc bắt đầu “khuấy động” Biển Đông một cách công khai bằng việc cho rò rỉ quyết định thiết lập một đơn vị hành chính mới có tên là Tam Sa bao gồm cả hai quần đảo của Việt Nam là Hoàng Sa và Trường Sa. Hai cuộc biểu tình có dáng dấp tự phát (kể từ 1954 đối với miền Bắc và từ 1975 đối với cả hai miền Nam, Bắc) của người Việt Nam đã xuất hiện lần đầu tiên ngay sau đó ở Hà Nội và Sài Gòn, vào ngày 9 và 16/12/2007, để phản đối thái độ xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc. Ngày 19/12/2007 trên Diễn đàn THPT chuyên Thái Bình đã đăng một bài với dòng giới thiệu như thế này: “Trong lúc tìm bài chính luận nộp cho cô trưởng khoa, tớ đọc được cái này. Đây là bài của tác giả Phạm Hồng Sơn. Nếu mà cô tớ đọc thì cô tớ sẽ  bảo là: phản động…

Đến nay, gần 5 năm đã trôi qua, sự bành trướng tại Biển Đông của nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc vẫn tiếp tục và gần đây liên tục có những hành động ngang ngược, táo tợn, sỷ nhục hơn đối với chủ quyền Việt Nam-một đất nước thuộc loại nổi tiếng nhất về những chiến thắng lẫy lừng chống xâm lược, trong đó có cả những quân xâm lược đến từ phương Bắc. Tại sao lại như vậy?

Để góp một phần nào đó trong việc trả lời câu hỏi trên, Như Cây Tre Việt Nam xin chia sẻ lại bài viết “phản động” nói trên với quí vị:

Sức mạnh để bảo vệ bờ cõi

Viết tặng các bạn sinh viên tham gia cuộc biểu tình trước Đại sứ quán và Lãnh sự quán Trung quốc ngày 09 tháng 12 năm 2007.

Hiếm có lịch sử lập quốc của dân tộc nào trên thế giới không liên quan tới các cuộc xung đột, xâm lấn, chống đỡ vũ trang với các lực lượng ngoại giới. Dân tộc Việt ngày nay sống trên dải đất hình chữ S gọi là Việt nam có lẽ hiểu rõ cái qui luật khắc nghiệt đó hơn ai hết khi từng có 10 thế kỷ liên tiếp phải sống dưới sự cai trị của cường quyền phương Bắc và liên tục phải chống đỡ các cuộc xâm lấn, "bài học" đến từ các triều đại, chính quyền tiếp sau đó từ phương Bắc. Dù đã lấy lại được nền độc lập và từng tạc nên những trận thắng oanh liệt, thậm chí có cả những ý nghĩ táo bạo lấy lại đất Lưỡng Quảng, dân tộc Việt cần phải nhìn nhận trường lịch sử chống đỡ đã nói lên sự thụ động và yếu thế thuộc về dân tộc Việt.

Cho dù nhân loại ngày nay đã tạo dựng được những thiết chế tầm cỡ quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc (UN), Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF),... để giải quyết xung đột, ngăn chặn các hành vi xâm lấn, kiến tạo hòa bình giữa các lãnh thổ, nhưng sức mạnh nội tại quốc gia vẫn là yếu tố cốt yếu để ngăn chặn mọi đe dọa, nguy cơ xâm lấn từ bên ngoài bất kể tầm mức lãnh thổ hay dân số.

Sự tự tin đàng hoàng của hòn đảo nhỏ bé Đài loan nằm cạnh Trung hoa lục địa khổng lồ, của thành phố quốc gia Sinh-ga-po nằm cạnh các nước to lớn át hẳn về dân số và diện tích, cũng như các quốc gia bé nhỏ nằm lọt ở trung và tây Âu như Mô-na-cô, Lúc-xăm-bua, Áo là minh chứng cho sức mạnh, thế chủ động quốc gia không đến từ quá khứ hay độ lớn về nhân lực, lãnh thổ.

Sự xâm lấn, đe dọa từ phương Bắc suốt mấy ngàn năm qua đối với dân tộc Việt chỉ là hậu quả tất yếu của một vị thế chưa đủ sức tạo nên sự tôn trọng từ ngoại bang. Việc lên án hay căm hận truyền thống xâm lấn của phương Bắc không nên được coi là giải pháp căn cơ, mà phải coi là nguy cơ gợi lại những hận thù đối với dân tộc Việt khi những ẩn ức quá khứ của người Chăm cũng trỗi dậy. Nguy cơ này có thể là một giả thuyết xa xôi, nhưng nó nhắc nhở thế hệ ngày nay rằng không thể xây dựng một tương lai hòa bình bằng những ký ức hận thù hay mặc cảm. Hòa bình chỉ được kiến tạo và duy trì khi sức mạnh được cân bằng trong mối quan hệ giữa các quốc gia trên một tinh thần hữu nghị, bình đẳng và hiểu biết lẫn nhau.

Để tránh mầm chiến tranh từ ngoại bang và ước vọng một tương lai thịnh vượng, dân tộc Việt dứt khoát phải tạo dựng cho được sức mạnh nội tại và chủ động trong phát triển. Sức mạnh nội tại của một dân tộc không thể có khi những cá nhân của dân tộc đó không thể tiếp cận, truyền đạt, trao đổi những suy nghĩ, tư tưởng một cách tự do. Sức mạnh luôn đến từ trí tuệ. Mọi sức mạnh của cộng đồng đều xuất phát từ trí tuệ cá nhân, có thể chỉ là những suy tư, băn khoăn, bức xúc đơn lẻ. Sự kiềm chế, cách ly tư duy cá nhân bất kể lý do hùng hồn nào cũng đồng nghĩa với tiêu diệt sức mạnh dân tộc. Một dân tộc chỉ mạnh khi biết nâng niu và tôn dưỡng những con người có phẩm cách và tài năng. Phẩm cách và tài năng của một con người phải cốt ở tư tưởng, học thức, chứ không phải ở tiền của hay chức vị. Sự đúng đắn của tư tưởng không phụ thuộc vào tuổi tác hay quyền tước. Khi dân tộc có đủ tự do về trí tuệ, khi đó mọi tài năng của dân tộc sẽ được huy động đầy đủ, tránh được mọi nguy cơ bỏ sót, trù dập mà bất cần đến những khẩu hiệu, những lời hiệu triệu to tát. Con đường phát triển của một dân tộc có tự do về trí tuệ sẽ là con đường chủ động để đủ mẫn cảm và sáng suốt tránh khỏi những lừa mỵ ngọt ngào nhất hoặc nhanh chóng rút khỏi những bước hụt lịch sử. Sự tự do về trí tuệ sẽ giúp dân tộc biết khước từ mọi ngụy biện về độc quyền chân lý, độc quyền lẽ phải, độc quyền về "thiên tài" lãnh đạo và độc quyền về lòng yêu nước. Khi đó dân tộc sẽ tự tạo được sức mạnh đủ tạo nên sự bình đẳng, tôn trọng trong quan hệ với mọi thế lực ngoại bang kể cả những thế lực thiếu thiện ý nhất.

Sức mạnh dân tộc không thể hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP đạt hai hay nhiều con số, nếu có, điều đó chỉ thể hiện qui mô nền kinh tế so với dân số còn rất thấp. Không có quốc gia phát triển nào dám kỳ vọng tốc độ tăng GDP đạt hai con số. Không có một quốc gia có môi trường sống xanh và an lành lấy tốc độ tăng GDP làm mục tiêu quan trọng. Sức mạnh dân tộc không thể hiện ở mức độ tăng vốn ODA, nếu có, điều đó chỉ nói lên nợ nần mà dân chúng phải gánh càng trĩu nặng. Sức mạnh dân tộc làm sao có được khi hệ thống giáo dục khước từ những tư tưởng học thuật đa dạng của nhân loại. Sức mạnh dân tộc không thể có khi trí thức bị trù dập, tù đày chỉ vì có quan điểm khác giới cầm quyền. Sức mạnh dân tộc không thể có khi những tấm lòng yêu nước xa xứ bị cho là "khủng bố" chỉ vì mong muốn sự chuyển đổi chính trị hòa bình cho đất nước. Sức mạnh dân tộc càng không thể có khi tiếng kêu oan của dân chúng ngày càng thống thiết, vô vọng. Không có tự do, không thể có sức mạnh dân tộc đúng nghĩa. Sự huy động dân chúng trong tình trạng mất tự do để giành chiến thắng trong cuộc chiến gần đây nhất đã rút cục chỉ là một "nỗi buồn" cho chính những người đã xả thân.

Nếu chúng ta biết bức xúc, căm phẫn trước hành động thôn tính bờ cõi của ngoại bang, chúng ta không thể im lặng trước cách hành xử bất công của chính quyền người Việt đối với người Việt. Hành động xâm lấn bờ cõi từ ngoại bang hay sự ức hiếp của chính quyền đối với chính đồng bào của mình đều là thể hiện của cường quyền, bất công. Một chính quyền đối kháng với người dân cũng sẽ là một chính quyền có khả năng quị gối trước ngoại bang.

Bờ cõi, đất nước chỉ có ý nghĩa khi những con người sống trên đó được tôn trọng, được đối xử công bằng và thân ái. Quốc gia chỉ có ý nghĩa, dân tộc chỉ có sức mạnh khi cộng đồng con người sống trên đó biết nương tựa vào nhau, biết chia sẻ vui buồn và giúp nhau thăng tiến với sự tôn trọng mọi khác biệt. Con đường nhận thức có thể không thẳng tắp nhưng không thể bỏ qua những vấn đề nền tảng. Nhiều phần bờ cõi của tổ tiên đã mất, nguy cơ tiếp tục bị mất đang hiển hiện. Dân tộc Việt nếu thực sự hiểu được sự thiêng liêng của từng tất đất tổ tiên để lại không thể không cùng nhìn lại để vực dậy sức mạnh nội tại của dân tộc, đó chính là nguyên nhân sâu xa của mọi âm mưu xâm lấn của ngoại bang hoặc sự phòng thủ chủ động thành công của dân tộc.

Phạm Hồng Sơn
Hà nội 10/12/2007

(Xin cảm ơn Diễn đàn THPT chuyên Thái Bình đã đưa ra thảo luận và lưu giữ bài viết trên.)