Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiểm duyệt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiểm duyệt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2009

Xuất bản sách: nhu cầu và trách nhiệm của tác giả



Một nhu cầu chính đáng

Muốn có một Thân phận Xã hội (Social Status) tốt đẹp cho sự hiện diện ngắn ngủi trên trái đất là một nhu cầu tự nhiên của con người. Dù là vô thức hay có ý thức, từ những hình thức sơ khai như vết khắc trên vách đá cho đến việc cầu kỳ như cắm cờ trên mặt trăng, các biểu tượng tạo nên đều thể hiện một nhu cầu khẳng định Social Status của cá nhân, cộng đồng hay quốc gia.

Hàng thế kỷ trở lại đây, chưa thấy có phương tiện nào vượt được qua sức hấp dẫn và tính phổ biến của phương cách in sách để khẳng định Social Status của cá nhân, bên cạnh nhiều ý nghĩa khác của việc xuất bản sách. Không chỉ thường dân mới hân hoan khi thấy tên mình được xuất hiện trang trọng trong các ấn phẩm. Từ trước tới nay, các nhân vật lịch sử (vĩ nhân hay đại ác nhân), gần như tất cả, đều cùng có một điểm đến là viết và xuất bản sách. Có lẽ dù công nghệ xuất bản có thay đổi đến đâu, những ấn phẩm sách bằng chất liệu giấy sẽ vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong việc ghi nhận và khẳng định Social Status của con người.

Do đó việc một tác phẩm viết đã được xuất bản dưới các dạng khác sách giấy (e-book, online, qua báo chí hay photocopy), tác giả vẫn có ước mong xuất bản tác phẩm dưới dạng sách giấy truyền thống là điều đương nhiên. Ngoài mục đích mở rộng “phổ” độc giả, tác giả của công trình viết còn muốn củng cố, tôn tạo thêm Social Status cho tác phẩm và cho bản thân. Đây là một nhu cầu chính đáng.
Một quan niệm sai lầm

Tuy nhiên việc chấp nhận việc “biên tập” đến mức làm thay đổi, làm mất những giá trị về học thuật, tư tưởng (xin gọi kiểu “biên tập” này là “biên tập phá hoại”) để cho tác phẩm được xuất bản là một sai lầm.

Có thể những tác giả đã chấp nhận việc “biên tập phá hoại” chỉ đơn giản nghĩ là chấp nhận để tác phẩm của mình được xuất bản (do sự câu thúc của nhu cầu tự thân củng cố Social Status) hoặc tự an ủi theo kiểu dù sao những nội dung khác (được giữ nguyên) vẫn đến được với nhiều độc giả hơn. Nhưng nếu nhìn kỹ, việc nghĩ đơn giản và kiểu tự an ủi này chỉ mang lại thiệt hại cho Social Status của tác giả. Vì Social Status của một tác giả chỉ phụ thuộc vào nội dung của tác phẩm.

Dĩ nhiên, một nội dung tốt được truyền bá bằng một hình thức (xuất bản) tốt là điều lý tưởng. Nhưng ngay thực tế ngặt nghèo về tự do tư tưởng như tại Việt Nam cũng cho thấy, nhiều tác phẩm không được phép xuất bản (thậm chí bị công an săn đuổi) vẫn đến được với công chúng, với số lượng độc giả chắc chắn lớn hơn rất nhiều con số 1.000 (một nghìn, số bản in trung bình của một tựa sách hiện nay). Và rất nhiều tác giả được dư luận kính trọng nhất hiện nay là những tác giả có những tác phẩm (đã) không được phép xuất bản. Các quốc gia đã qua thời cộng sản hay độc tài cũng cho thấy các tác giả đã bị hệ thống xuất bản cấp phép ghẻ lạnh là những người rất được kính trọng. Điều này cho thấy việc xuất bản bằng con đường có phép ở Việt Nam hiện tại không phải là cách thức quan trọng để phổ biến tác phẩm hay để củng cố cho Social Status của tác giả. Hình như nhiều tác giả Việt Nam đã quên mất, từ khởi nguồn, chính tác giả là người đã “đẻ” ra xuất bản và một nhà xuất bản đáng trân trọng phải là nhà xuất bản biết trân trọng, chắp thêm cánh cho tư tưởng của tác giả.

Nếu nhìn dưới góc độ rộng hơn. Mỗi một tác phẩm viết đều mang ít nhiều chức phận “khai dân trí”, việc chấp nhận lối “biên tập phá hoại” không khác gì chấp nhận mang đến cho dân chúng những sản phẩm què cụt, dị dạng (về tư tưởng, học thuật). Mỗi một tác phẩm chấp nhận việc “biên tập phá hoại” đã tự mang trong nó một ý đồ “ngu dân”, dù điều này có thể nằm ngoài ý thức của tác giả và người biên tập. Một tác phẩm làm “ngu dân” thì Social Status của tác giả không thể tăng thêm giá trị.

Có thể nhiều tác giả, đã chấp nhận việc “biên tập phá hoại”, cũng nhận thấy sự vụt qua rất nhanh của cảm giác lâng lâng khi nắm chặt vào lòng cuốn sách đầy đặn, đẹp đẽ, nhưng bên trong đã không còn lành lặn. Song, với một xã hội vẫn ngập tràn những hoạt động thiên về sự hào nhoáng, gấp gáp thì việc dứt khỏi cám dỗ “ta có (thêm) sách được in” (1) không phải là việc một sớm, một chiều.
Biên tập viên và trách nhiệm của tác giả

Không cần tìm hiểu sâu xa cũng có thể khẳng định, người làm nghề biên tập trong các nhà xuất bản của Việt Nam hiện nay (dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam) thuộc hệ thống phục vụ cho công tác tuyên truyền, bảo vệ tư tưởng chính trị độc quyền cho ĐCS Việt nam. Như vậy, một nhiệm vụ quan trọng được giao cho biên tập viên là phải loại bỏ, phá đi những tư tưởng, những điều bất lợi cho sự độc quyền chính trị của Đảng CS Việt nam. Đương nhiên vẫn có ngoại lệ không thực thi nhiệm vụ đó, có thể do sai sót về kỹ thuật (nghĩ rằng không ảnh hưởng đến độc quyền chính trị) hoặc do sự táo bạo của người biên tập (muốn nâng đỡ tư tưởng cho người viết và công chúng). Nhưng các ngoại lệ đó, từ trước tới nay, đều bị xử lý nghiêm khắc.

Tuy nhiên, chưa hẳn người biên tập đã cảm thấy thoải mái khi phải thực hiện nhiệm vụ “biên tập phá hoại”. Nhưng nếu tác giả dễ dàng chấp nhận việc “biên tập phá hoại”, khi đó người biên tập sẽ dễ có cảm giác hữu ích khi thực hiện sự “phá hoại”. Và mặc cảm tội lỗi (nếu có) sẽ nhanh chóng được thay thế bằng sự tận hưởng cảm giác “hoàn thành công việc” và “chiến thắng đối thủ”. Đây chính là một trong các nguyên nhân sâu xa của sự tha hóa. Vô hình chung tác giả (chấp nhận “biên tập phá hoại”) đã tiếp tay cho việc hình thành và duy trì phản xạ “biên tập phá hoại” của giới biên tập.

Dĩ nhiên việc xác định thế nào là “biên tập phá hoại” không phải luôn đơn giản và bất biến. Việc xác định hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức, hiểu biết và đạo đức của tác giả và biên tập viên. Và phán xét cuối cùng thuộc về công luận, cùng với thời gian.

Một cách công bằng, không phải mọi sách xuất bản theo con đường có phép hiện nay đều là dở. Nhưng các ấn phẩm “ngu dân” hiện vẫn tràn ngập xã hội và những người dám dấn thân chống lại lối “biên tập phá hoại” vẫn còn quá ít. Đó cũng là nguyên nhân của nhiều bức xúc, phẫn nộ trước các tác giả chấp nhận lối “biên tập phá hoại” để được xuất bản có phép. Khi tư tưởng vẫn còn là đối tượng quản lý chặt chẽ của người cầm quyền thì việc công luận bày tỏ sự bất bình trước sự lùi bước của các tác giả là một phản ứng tích cực và đáng lắng nghe.

Một cách công bằng nữa, không thể đánh giá công cuộc giành lại quyền xuất bản tự do bằng một lối nhìn cứng ngắc. Nhưng những tác giả đang giữ quan điểm cứng ngắc (2), không chịu chấp nhận mọi cắt xén tác phẩm cũng đang giữ một vai trò như ngọn hải đăng trong đêm cho các con tàu đang lênh đênh trên biển.

Hy vọng những va chạm, tranh luận, phê phán dù gay gắt sẽ hướng đến các cách thức xuất bản tôn trọng tư tưởng của tác giả. Vì, trong sâu thẳm, chắc không có tác giả nào lại muốn đứa con tinh thần của mình bị người khác thô bạo sửa đổi. Và người có trách nhiệm bảo vệ trước tiên, không ai khác, phải là tác giả - cha của đứa con tinh thần.

Phạm Hồng Sơn
15/12/2009

(1) Câu này ở bản đăng trên Talawas viết là " miễn là có sách được in".
(2) Talawas khi đăng đã chuyển 2 chữ "cứng ngắc" thành "cứng nhắc".

Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2009

Cách ly xã hội và tường lửa (firewall)

Theo xã hội học, cách ly xã hội (social isolation) là tình trạng một cá thể không được tiếp xúc hay giao tiếp với các cá thể khác của cùng một loài. Cách ly xã hội là một chủ đề nghiên cứu của các nhà xã hội học nhằm chứng minh tầm quan trọng của xã hội hóa (socialization) (1) trong quá trình phát triển của con người (human development). Cách ly xã hội thường được nghiên cứu thông qua những thực nghiệm trên động vật linh trưởng (không thuộc giống người) và các trường hợp con người đã bị cách ly khỏi xã hội. Các sách giáo khoa về xã hội học thường trích dẫn hai điển cứu về cách ly xã hội được tìm thấy như sau :

1. Anna là một cô gái được sinh ra ngoài ý muốn từ một phụ nữ có bệnh lý về tinh thần, vào năm 1932. Cô bị nuôi nhốt trong một buồng kho trên tầng mái của nhà người ông ngoại. Anna chỉ được quan tâm sao cho không bị chết, ngoài ra không được chăm sóc gì khác. Nhà xã hội học Kingsley Davis (1940) đã mô tả tình trạng của Anna khi cô được phát hiện vào năm 1938, khi đã lên 6 tuổi : Anna không hề có dấu hiệu của ngôn ngữ và tuyệt đối không có khả năng đi lại, không có cảm nhận về điệu bộ, không có một chút khả năng tự ăn ngay cả khi thức ăn để ở trước mặt, không hiểu gì về sạch bẩn. Cô ta có vẻ ngoài thờ ơ đến mức là rất khó có thể biết là cô ta có khả năng nghe ta nói hay không. Và đó là tất cả biểu hiện của một người đã được gần 6 tuổi.

Khi Anna được đưa tới chăm sóc ở một trường học đặc biệt, Anna đã dần học được cách đi lại, nói và tự quan tâm đến bản thân. Anna đã học được cách định hướng, nói với những câu ngắn, rửa tay, đánh răng và giúp đỡ bạn, nhưng đã chết vào lúc 10 tuổi, (Davis, 1940)

2. Genie, một cô gái được tìm thấy vào năm 1970 khi đã 13 tuổi. Genie bị khóa chặt ở trong buồng ngủ một mình và cứ định kỳ lại bị buộc chặt vào chiếc ghế bô (để đi đại, tiểu tiện) hoặc buộc vào một túi ngủ. Tình trạng này kéo dài suốt từ khi Genie được 20 tháng tuổi cho đến khi được phát hiện (13 tuổi). Genie chỉ được cho ăn bằng thức ăn của trẻ sơ sinh và luôn bị đánh bằng một mái chèo gỗ khi khóc. Genie không hề được nghe tiếng người vì không ai nói gì với cô và trong phòng cũng không có TV hay radio (Curtis, 1977 ; Pines, 1981). Genie sau đó đã được đưa vào một bệnh viện nhi khoa và được một nhà tâm lý học mô tả lại như sau : Vào lúc nhập viện, Genie gần như không có biểu hiện gì về mặt con người (trừ hình dạng). Cô không thể đứng được thẳng, miệng chảy rãi liên tục, không biết đi vệ sinh (như người bình thường), không có khả năng kiểm soát việc tiểu tiện hay đại tiện. Genie không thể ăn được thức ăn rắn và có chiều cao, cân nặng và hình dạng như một đứa trẻ chỉ bằng nửa tuổi của cô. Nếu đưa một đồ vật cho Genie, cô sẽ giơ tay chạm vào nó, cầm lấy nó và dùng ngón tay sờ soạng như không nhìn thấy đồ vật. Cô ta cọ nó vào má để cảm nhận nó. Khi tôi đến bên giường cô, và giơ tay về phía cô, cô cũng đón lấy và thận trọng sờ từng ngón tay tôi rồi cũng đưa lên cọ vào má cô. Genie có biểu hiện như một trẻ mù (Rymer, 1993 : 45).

Các biện pháp chăm sóc đặc biệt đã được áp dụng cho Genie nhằm xã hội hóa và phát triển khả năng ngôn ngữ cho cô. Tuy nhiên, các kết quả đạt được chỉ ở mức hạn chế và đến những năm 1990, Genie vẫn phải sống trong môi trường chăm sóc đặc biệt.(2) (hết trích)

Mặc dù hai trường hợp cách ly xã hội được ghi nhận trên đây có tính chất điển hình (bị cách ly xã hội gần như tuyệt đối) và có thể nói rằng không thể trở thành phổ biến trong xã hội (con người). Tuy nhiên, hai điển cứu đã cho thấy các mức độ cách ly xã hội tuyệt đối hoặc tương đối đều gây ra những thiếu hụt và cả những tàn phá rất khó hồi phục đối với sự phát triển của con người. Nói theo ngôn ngữ dân dã, hạn chế việc giao tiếp với xã hội có thể biến một con người tài năng thành một con người « ngớ ngẩn », hết sức thương tâm.

Trong quá trình xã hội hóa, con người có thể gặp phải những chuyện không như ý muốn hoặc thậm chí bị lừa gạt hay đầu độc. Nhưng về luật pháp cũng như đạo đức, không ai có quyền « cách ly xã hội » người khác, kể cả là tạm thời.(3) Chưa kể, sự trưởng thành đích thực của con người, ngoài việc được bồi đắp qua những giao tiếp tích cực, cũng cần phải biết cả những trải nghiệm tiêu cực hay kinh nghiệm xấu xa của xã hội. Các thực nghiệm « cách ly xã hội » cũng bị đạo đức nghề nghiệp và luật pháp nghiêm cấm thực hiện trên con người.

Qui mô và chiều sâu tương tác của con người với xã hội trên thế giới luôn được mở rộng và sâu sắc thêm, đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia là hiện tượng có thể nhìn thấy trong thời đại ngày nay. Sự phát triển kinh ngạc của các phương tiện truyền thông qua Internet chính là thể hiện cho khát khao của con người muốn phá bỏ mọi « cách ly xã hội » để có thể phát triển bản thân một cách hoàn thiện hơn và hiệu quả hơn.

Cho dù một xã hội, một dân tộc không thể qui đơn giản như một cá nhân. Nhưng, nếu hình dung một xã hội, một dân tộc như một con người, chúng ta có thể cảm nhận được sự tai hại thương tâm khi cả xã hội đó hay dân tộc đó bị « cách ly xã hội » với xã hội nhân loại rộng lớn.

Trên thực tế, không một nhà độc tài nào có thể « cách ly xã hội » từng người dân vào một căn phòng riêng biệt. Và xã hội hóa không chỉ thực hiện qua những tương tác bằng những phương tiện hiện đại trên Internet. Nhưng, khi một dân tộc bị những bức tường lửa (firewall) ngăn cách với các phương tiện xã hội hóa tiện lợi như facebook, twitter v.v, hoặc ngăn cách với kho tàng trí tuệ nhân loại trên Internet thì có thể nói cả dân tộc đó đang ở trong tình trạng bị « cách ly xã hội ».

Một dân tộc đã bị « cách ly xã hội » thì chắc chắn không thể nào phát triển được bình thường, không thể có khả năng « sống » một cách bình thường với xã hội nhân loại. Một dân tộc đã không thể phát triển được bình thường thì những mục tiêu cao đẹp như « dân giàu, nước mạnh » hay « sánh vai với các cường quốc năm châu » chỉ là sự tự huyễn hoặc hay dối trá, không hơn !

Kết tội không phải là mục đích của các nhà xã hội học, do đó trong hai điển cứu kể trên, thủ phạm hầu như không được nhắc tới. Tuy nhiên, việc « cách ly xã hội » đối với con người, đã được tất cả thừa nhận, là một tội ác.

Phạm Hồng Sơn
27/11/2009


(1) Khái niệm “xã hội hóa” ở đây khác với “xã hội hóa” được định nghĩa trong một số từ điển tiếng Việt xuất bản ở trong nước (Từ điển tiếng Việt 1994 của NXB Khoa học Xã hội và Trung tâm Từ điển học và Từ điển tiếng Việt của NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học 2009 đều ghi là “làm cho trở thành của chung của xã hội”) hoặc theo nghĩa đang được dùng phổ biến trên các phương tiện đại chúng của Việt nam hiện nay (có ý nói đến việc huy động thêm sự đóng góp, tham gia của khu vực tư nhân vào các công việc từ trước chỉ do nhà nước đảm nhiệm, ví dụ: Xã hội hóa trường học, xã hội hóa y tế,…). Trong xã hội học, “Xã hội hóa” (socialization) có nhiều định nghĩa với những khác biệt ít nhiều. Xin giới thiệu hai định nghĩa sau: 1. “Là quá trình tương tác suốt đời của một cá nhân với xã hội, thông qua đó, cá nhân tạo được bản sắc riêng của mình và thu được các kỹ năng về xã hội, về hoạt động thể chất và tinh thần cần cho sự tồn tại trong xã hội.” (Diana Kendall, ”Sociology in our times, The Essentials”, 4th Edition 2004, Baylor University, Thomson-Wadsworth. Trang 77) 2. “Xã hội hóa là quá tình tương tác giữa người này với người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và sự thích nghi với những khuôn mẫu” (Fitcher, trong Xã hội học đại cương do Vũ Quang Hà, Nguyễn Thị Hồng Xoan biên soạn, NXB Đại học quốc gia Hà nội, 2003, trang 131)
(2) Diana Kendall, ”Sociology in our times, The Essentials”, 4th Edition 2004, Baylor University, Thomson-Wadsworth. Trang 80, 81. (trường hợp cách ly xã hội thứ hai được dẫn ở đây có một sự trùng hợp rất trớ trêu là cô gái Genie có cái tên gợi đến một từ tiếng Pháp “Génie” có nghĩa là tài năng thiên bẩm, người thiên tài. PHS)
(3) Đối với các án phạt tù dành cho tội phạm, luật pháp cũng chỉ cho phép hạn chế các giao tiếp xã hội ở một mức độ nhất định và không áp dụng đối với người chưa thành niên (chưa trải qua quá trình xã hội hóa, được hiểu là đủ để đạt được những hiểu biết, kỹ năng cơ bản của con người xã hội). Đối với án phạt tử hình: xu thế của thế giới hiện nay là tiến tới bãi bỏ loại trừng phạt này.