Hiển thị các bài đăng có nhãn Khải Minh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khải Minh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

Anh Tập đi Trung Đông

Khải Minh

Giấc mơ bá chiếm thiên hạ của Thiên tử nòi Hán quả là một giấc mộng  kê vàng.  

Câu chuyện Lư Sinh nằm mộng được thành đạt lẫy lừng, rồi tiếp theo sau đấy lại bị đầy ải khổ nhục hết biết. Đến khi choàng dậy tỉnh mộng, Lư thấy sư phụ Lữ ông, vẫn đang lui cui rang chảo kê chưa kịp chín!  Điểm khác nhau giữa câu chuyện nước Tầu và  Lư sinh là khi tỉnh ngộ, biết được lẽ vinh nhục đáo đầu, chàng Lư bèn lập tâm tu tập, còn các Hoàng Đế Thiên Triều thì không. Họ dần đưa nước Tầu nếm mùi nhục nhiều hơn vinh ngay trong đời thường mà vẫn u mê. Cha truyền con nối, họ tiếp tục dẫn đưa nước Tầu nối tiếp kinh qua những trường đại…ác mộng!

Tập đi Trung đông, chuyến này là chuyến đi đầu tiên sau khi lên cầm quyền từ ba năm trước, cũng là một chứng thực rằng lịch sử thì hay tái lập.  Bay một vòng qua các nước Ai cập, Saudi Arabia và Iran trong tuần qua (từ 19/1/2016 đến 23/1/2016) cũng có thể xem tương tự như cuộc tìm kiếm thuộc địa của Trung Quốc hai nghìn năm trước tại vùng Trung và Tây Á.

Đến Ai cập để nhắc lại ‘tình xưa nghĩa cũ’. Ai Cập là một trong những nước đầu tiên công nhận Trung Quốc năm 1956 và cũng lại là đồng hội đồng thuyền trong cái gọi là tổ chức các quốc gia phi liên kết (non-aligned). Hai nước Iran và Saudi Arabia là hai nước cung ứng dầu cho Trung Quốc lớn nhất trong hơn hai thập niên qua đến nay.

Mục đích chuyến đi, được ‘công bố’ là nhằm thúc đẩy chương trình tái lập một mạng lưới ‘con đường tơ lụa’ kết nối các khu vực thương mại trong vùng, từng chính thức lập ra trong đời Hán (206 BC-220 AD).

Mộng mà. Tha hồ thả hồn theo tham vọng dẫn đưa.

Tập cầu tìm quan hệ kinh tế chặt chẽ về năng lượng, xuất khẩu, an ninh năng lượng. Tập lại muốn xây dựng quan hệ về chính trị, quân sự, ngoại giao …để tạo ấn tượng Trung Quốc ngày nay đã đến lúc trở về vị trí là một quyền lực quan trọng trên thế giới, như hơn hai ngàn năm trước.

Có những thực tế vạch ra nguyên nhân vì sao giấc mộng kê vàng này tái sinh. Là một công xưởng cho thế giới, và là nền kinh tế số 2 trên toàn cầu, lại bàn cứ trên một vùng đất cạn sạch tài nguyên so với nạn nhân mãn, hẳn nhiên Trung Quốc khát dầu, mà Trung Đông lại là nơi cung ứng hơn nửa số dầu để Trung Quốc có thể giữ nền kinh tế của họ vận hành.

Khi những kẻ độc miệng phê phán rằng trước giờ Mỹ xen lấn vào tình hình Trung Đông vì Mỹ muốn cầm nắm nguồn cung ứng dầu tại đó.  (Operation Iraqi Freedom, viết tắt là OIF, tên gọi chính thức của chiến dịch đánh Iraq lật đổ Saddam Hussein - bước đầu của chiến dịch lớn hơn là Operation Enduring Freedom, để chống khủng bố toàn cầu - bị mỉa mai sửa thành Operation Iraqi Liberty, viết tắt là OIL, Dầu, để ám chỉ Mỹ khuấy đảo Trung đông vì dầu.  Trung Quốc cũng không ít lần kết án, tố cáo Mỹ.)

Có thể không sai, miễn đừng quên là Mỹ chỉ nhập khẩu dưới 13%  nhu cầu về dầu khí của họ từ Trung đông.  Trung Quốc lại là nước ngốn nhiều dầu Trung Đông nhất!

Hơn nữa, người ta đồ rằng, Trung Quốc quan tâm về khu vực Trung Đông vì nơi này có thể là địa bàn để đào tạo, cung ứng phương tiện, là hậu phương cho các tổ chức Hồi giáo ly khai phía Tây Trung Quốc, nơi có khoảng hơn 40 triệu người Hồi giáo.  Nghe có lý. Thế sao họ chả lo từ sớm, mà đợi mãi đến nay?

Chính sách của Hoa Kỳ dưới các nhiệm kỳ chính phủ của Obama ‘có vẻ’ muốn nhường việc thiên hạ cho thiên hạ lo.  Sự rút quân vội vã ra khỏi Iraq và sự thay đổi sách lược ngoại giao tại vùng Trung Đông do vậy đã tạo ra một khoảng trống quyền lực quân sự và chính trị tại đó. Rối ren các loại được dịp bùng lên. Một trong các hệ quả là Nga chụp lấy cơ hội, nhân danh chống IS để nhảy vào bành trướng ảnh hưởng. Âm mưu gì chưa rõ, nhưng ai cũng thấy rõ là Nga đang ‘ôm đầu máu’.

Nhưng chuyện Nga đang cố đóng vai trò quan trọng hơn tại Trung Đông khiến anh Tập bâng khuâng … Anh sợ mất thời cơ!

Trước giờ, họ Tập luôn mồm cổ xúy cho Chương Trình Con Đường Tơ Lụa, còn gọi là ‘một vành đai, một con lộ’ (One Belt, One Road – Nhất Đái, Nhất lộ).  Theo đấy, Trung Quốc có tham vọng thành lập một hành lang kinh tế thương chạy dọc theo con đường tơ lụa ngày xưa, xuyên qua Tây Á, Trung Á, Trung Đông, đến tận Âu châu. Chương trình này còn bao gồm một tuyến thủy lộ nối liền Trung Quốc với các hải cảng ở Phi châu, lên kênh đào Suez, và tiến vào Địa Trung Hải.  Thủy lộ xuyên vùng biển Đông của Việt Nam là một phần quan trọng của tuyến thủy lộ này vì nằm ngay cửa ngõ giao thương chiến lược của Trung Quốc.

Dưới thời nhà Hán, con đường tơ lụa được xem như con đường thương mại chính của vùng trung tâm Á châu. Thương mại phát triển phồn thịnh dẫn theo các trao đổi, phát triển ngoại giao, văn hóa, kiến trúc … Hôm thứ Tư tuần qua, Trung Quốc công bố hồ sơ ‘Chính Sách Ả Rập’, nội dung có nhắc lại hào quang ngày cũ, với hàm ý rằng những ngày vàng ấy có thể tái lập lại thời nay.

Các sử gia thì ghi nhận giá trị quan trọng nhất của con đường tơ lụa là sự trao đổi về văn hóa và tư tưởng giữa các nước trong vùng. Các nhà nghiên cứu thì lại kết luận là văn hóa tư tưởng Trung Quốc hiện nay rất xa lạ với văn minh Ả Rập, nếu không muốn nói thậm chí chống chọi nhau. Ngày xưa, dưới các triều đại Hán, Đường, văn minh văn hóa, tôn giáo, của Trung Hoa có nhiều thứ để đóng góp vào nền văn minh Đông phương.  Ngày nay dưới triều đại Cộng sản Trung Quốc thì chẳng những vô thần mà còn triệt phá tôn giáo.  Sự đàn áp dã man dân Hồi giáo vùng Tân cương, các giáo phái Cơ đốc, và Pháp Luân Công đủ nói lên điều này. Ngược lại, văn minh Ả Rập lại hội nhập tôn giáo vào đời sống hằng ngày, ngay cả trong cơ chế chính trị và luật pháp.

Ngày xưa, nước Trung Hoa mở con đường tơ lụa mang bán cho thiên hạ.  Ngành thời trang của nước Ý vẫn ‘khét tiếng’ đến ngày nay vì Ý là cửa ngõ của Âu châu trông ra Địa Trung Hải.  Ngày nay anh Tập không đi bán hàng, anh vác tiền đi mua dầu.  ‘Vai mang túi bạc kè kè, nói quấy nói quá, người nghe ầm ầm’.

Thế là, cả ba quốc gia nói trên đều đồng thanh ủng hộ chương trình tơ lụa, giấc mộng vàng của họ Tập.  Sao không được chứ?  Người Hoa mại bản hay nói ‘đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn’. Vài mươi tỉ đô hứa hẹn đầu tư tại Ai Cập, và hợp đồng mua bán dầu khổng lồ hàng 600 tỉ đô tại mỗi nước kia, và một lô mấy chục hợp đồng hợp tác kinh tế, thì khác biệt chống chọi văn hóa, tư tưởng, tôn giáo gì gì cũng dường như được san bằng, giũa tròn, và làm sáng mắt, dịu giọng mọi phe trong cuộc.  Ít ra trong giai đoạn này, khi giá dầu lao dốc không phanh, Saudi rất cần khách hàng ổn định,  vì lổ thủng ngân sách quá lớn, và phải lâm chiến với IS để giữ ngai vàng, còn Iran thì đang lóp ngóp bước ra khỏi cấm vận, còn quẩn quanh chưa biết bán dầu cho ai! Từ căn bản đồng thuận này Trung Quốc hy vọng sẽ nhân lên thành một sự đồng thuận với tất cả các quốc gia trong vùng Trung Á về chương trình con đường tơ lụa.

Về phần Trung Quốc, thì việc toàn cầu hóa đồng Nhân Dân Tệ (NDT) có lẽ cũng là một mục tiêu. Giá dầu được định bằng NDT, nếu xẩy ra, là một thắng lợi chiến lược cho Trung Quốc trong việc đưa ra một cấu trúc tài chính mới xây dựng trên đồng NDT. Từ đó Trung Quốc sẽ sử dụng cơ sở tại Trung Đông để kiêm luôn vai trò là cửa ngõ tài chính trên thực tế cho khối các nước Phi châu kế bên, vốn là một địa bàn quyền lợi rất lớn và béo bở của Trung Quốc mà họ đã âm thầm xâm thực lâu nay.

Về chính trị và quân sự,  trước giờ Trung Quốc chỉ phải lo những chuyện phên dậu, phiên bang (Tây Tạng, Mông Cổ, Việt Nam …)  Hiện nay họ tin là đến lúc họ phải bành trướng thế lực lên mức chiến lược toàn cầu cho xứng tầm với sức mạnh kinh tế và quân sự đang có trong tay!  Việc nhẩy vào Trung Đông cũng là hành động ứng phó với sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ trong sân sau của họ tại Thái Bình Dương, và đối với vị trí thượng phong và quan hệ chiến lược giữa Hoa Kỳ và hầu hết các nước trong vùng Trung Đông bấy lâu nay, nhất là từ sau trận chiến tại Iraq và chiến dịch chống khủng bố toàn cầu do Hoa Kỳ lãnh đạo.  

Các dữ kiện này khiến Trung Quốc luôn cảm thấy thất thế. Họ tìm mọi cách hóa giải. Từ việc xây ống dẫn dầu xuyên Trung Á cho đến xây cảng dầu khí ở Miến Điện, Trung Quốc muốn đi tắt, khỏi phải qua thủy lộ biển Đông, vòng qua eo biển Malaca, ra Ấn Độ Dương,  là các nơi Hải quân Hoa Kỳ luôn luôn có khả năng khống chế.

Ngay trước chuyến đi Trung đông, có vấn đề Trung Quốc sẵng sàng gởi quân qua tham chiến ở nước ngoài trong cuộc chiến chống khủng bố. Động thái này được xem như một cách làm dáng, ra vẻ ta đây cũng sẵn sàng tham gia vào sự nghiệp công ích hòa bình thế giới.

-
Trung Quốc lo lắng vì Việt Nam?

Điều khôi hài đáng ghi nhận mà không sợ lạc đề ở đây, là đang khi anh Tập làm dáng oai phong cho chuyến đi Trung Đông, thì tại Việt Nam, giữa lúc cơn lên đồng giành giật ngai vàng cao nhất của Đảng Cộng sản, nhiều tin đồn đoán thứ thiệt thật giả được rỉ rò, bú mớm, xào xáo, tung ra tứ phía làm rối mù con mắt thiên hạ. Người bảo kẻ này theo Tàu, kẻ bảo người kia tham nhũng không xứng ngai vàng. Mớ bòng bong bùn lầy tứ tung không biết đâu mà lường. Nhưng có một cái rõ ràng và đã dứt khoát bất biến, bất cứ cái ngai vàng của Đảng sắp tới giật về cho ai, đó chính là: “dân chủ xã hội chủ nghĩa” –  dân được quyền làm chủ xuống hố cả nút vì...Đảng. Nói vì Tàu, vì anh Tập đã sang tận nơi chỉ đạo, đã thao túng, đã chọn lựa, chỉ định sẵn trước Đại hội thì cũng không hoàn toàn sai. Vì nếu không có sao phát ngôn nhân của Đảng lại phải thanh minh thanh nga rằng “Trung Quốc không thể tác động vào đại hội 12 của Đảng”. Nhưng đổ hết cho Tàu và anh Tập thì có lẽ hơi…oan quá. Hãy nhìn lại chuyến vượt biên đơn độc lén lút của Hồ sang Tàu vào đầu năm 1950 hay cả bầu đoàn thê tử có cả đệ tử ruột của Hồ sang chầu chực ở Thành Đô năm 1990 thì hỏi là do ai xúi bẩy, ai lôi kéo hay tự Đảng tự nguyện chui vào rọ…Tàu? Lại có người biện minh tại những hồi đó Đảng lẻ loi, cô độc nên bĩ cực làm…liều. Vậy thử hỏi hiện nay Đảng đã làm gì trước sự mời gọi của Hoa Kỳ, Liên Âu, Phi Luật Tân? Lại nói “phe thân phương Tây” phải chấp nhận bỏ cuộc, thúc thủ trước kết quả bầu bán như thế là vì phe thân Tàu quá mạnh cũng không phải không đúng. Nhưng biết là yếu sao không lấy sức mạnh vô song của dân chủ, nhân quyền để “thế thiên hành đạo” hay cũng chỉ rặt một phường lấy vỏ bọc thân Tây để lụy Tàu cho đẹp mặt?

Vì vậy anh Tập đang còn phải sắm vai quân tử Tầu đi mua dầu, ai rảnh đâu lo cho việc xem như đã xong ở xứ cựu An Nam!  Nhưng có, anh Tập đã đồng ý cho hầu cận sang để úy lạo mừng “Đại hội thành công” rồi đấy.

Trung Quốc luôn luôn trị quốc bằng biến pháp. Trong lịch sử cận đại từ Tôn Dật Tiên, đến Mao, đến Đặng, chính sách đối với các dân tộc thiểu số và đối với các phiên bang dã man như thế nào bất tất phải nói thêm. Riêng đối với Việt Nam, chính sách của Trung Quốc hiện nay chưa có bất cứ một thay đổi gì từ biến pháp của Đặng. (Khi Liên Xô tan vỡ đầu thập niên 1990s, có kẻ lãnh đạo Việt Nam chạy qua quỳ lạy van, xin nhưng Đặng không thèm tiếp, chỉ nhắn lời vắn tắt đại khái là: Trung Quốc –Việt Nam vẫn là đồng chí, hết là đồng minh!)  Ai nói người Cộng sản Việt Nam không biết mơ nào?  Có điều, rặt những ‘giấc mộng con’, nhỏ mọn ti tiểu, chỉ giỏi ức hiếp, hợm hĩnh với...dân mình.
-
Trở lại vấn đề, lâu nay quan hệ của Trung Quốc trong vùng Trung đông và Phi châu cũng chỉ là quan hệ trục lợi về kinh tế. Dù người Hoa có bị IS bắt chém đầu tại Syria, dù tàu bè Trung Quốc có bị bắn phá, thủy thủ bị bắt làm con tin tại Phi châu, họ có vẻ muốn dành các việc ấy cho các nước khác lo. Năm ngoái anh Tập cũng đã hủy chuyến đi Trung Đông vì ‘né’ không dám dây vào đang lúc cuộc nội chiến tại Yenmen đang bùng lên, có sự tham gia chi phối của Saudi Arabia và Iran. Và tại Trung đông, chưa bao giờ Trung Quốc dám len vào rắc rối lớn nhất, lâu đời nhất là xung đột giữa Do thái- Palestine. Nên lần này, nhìn vẻ mặt thân thiện của Tập với lãnh đạo Saudi Arabia và Iran, là hai nước có xung đột nghiêm trọng và đang trên bờ chiến tranh - vì vụ xử tử một giáo sĩ Hồi giáo, phái cực đoan Shiite nổi tiếng tại Riyadh - thì cũng chả ai dám tin là Trung Quốc sẽ đóng một vai trò trung gian hòa giải thành thật gì đâu. Anh Tập còn đang mơ chuyện khác…

Anh Tập lại có vẻ muốn chơi sang kiểu Mỹ. Chưa bao giờ Trung Quốc đưa ra một hồ sơ về chính sách tại Trung đông. Lần này chẳng là Tập muốn tỏ ra là một nhà lãnh đạo quốc tế có trọng lượng, quang minh chính đại, bằng việc công bố hồ sơ chính sách nêu trên.

Rõ ràng, là muốn chơi trội, để cả thế giới Trung Đông hiểu rằng, anh Tập là dân chơi quốc tế thứ thiệt, anh không phải chủ tiệm mì hoành thánh, anh không rao bán phá xắn hay tơ lụa gì, anh có tiền và anh có quyền, muốn gì là báo thẳng, có giấy tờ, chứ không úp mở. Anh Tập mơ làm Hán Vũ Đế, anh mơ là Đường Minh Hoàng…

Trong giấc mộng vàng, làm gì có chiến tranh hay các rắc rối khác, thực tế thì anh Tập với thói tinh ranh ích kỷ hại nhân cố hữu của một tay mại bản người Hoa, muốn tránh né mọi trách nhiệm, mọi khó khăn trở ngại để theo đuổi việc tìm kiếm cơ hội phát triển kinh tế bên ngoài để xây dựng bên trong theo biến pháp của họ Đặng đề ra từ cuối thập niên 1970.

Nhưng, được thế hay không lại là chuyện khác. Cả Iran và Saudi Arabia đều có trong tay rất nhiều phe đảng.  (Iran có lực lượng cố vấn quân sự nằm vùng tại Iraq, chí nguyện quân tại Syria, bộ hạ tại Palestine và tay chân trong Hezbollah …vốn rất chuyên nghiệp trong các công tác ủy nhiệm. Saudi qui tụ được lực lượng khoảng 30 nước trong một liên minh chống IS gần đây…) Trong bối cảnh xung đột chính trị và tôn giáo triền miên trong khu vực Trung Đông và trong tình huống đang sôi sục hiện nay, coi bộ anh Tập khó tránh được bị cuốn vào những trận can qua như mong ước. Một khi quyền lợi Trung Quốc gia tăng mạnh, cũng có nghĩa là có ngày các quyền lợi ấy sẽ bị đánh phá nếu anh Tập không có lời đáp thỏa đáng. Ngày ấy là ngày khi một hay nhiều bên có xung đột hỏi thẳng Tập câu hỏi ‘Người ấy và em, anh chọn ai?’

Giời ạ, hãy nhìn xem Trung Quốc hôm nay!  Kinh tế hàng thứ nhì trên thế giới là tính theo sản lượng cả nước, nhưng tính theo bình quân thu nhập đầu người, ngoại trừ tham quan và bọn doanh gia nhóm lợi ích đầu sỏ (vested interests), đa số cháo không có mà ăn mỗi bữa. Kinh tế đứng hàng thứ nhì, mà biến đất nước thành cái bãi rác công nghiệp khổng lồ, và hơn hai trăm ngày khói ô nhiễm phủ đen trời ngay tại thủ đô Bắc Kinh! Nợ công trong nước là hơn 28 ngàn tỉ Đô hiện không hề có một cách gì giải quyết thỏa đáng. Ngoại tệ dự trữ đang là 4.500 tỉ Đô, giữ trong US Treasury Bonds như một loại 'của để dành', mà nay chỉ còn khả năng chi tiêu dưới một ngàn tỉ trong số ấy.  Số này vẫn là tiềm năng lớn ư?  Nhầm đấy, chỉ riêng tuần qua, chính phủ Trung Quốc phải bù lỗ gần 50 tỉ Đô cho thị trường chứng khoán khỏi thở hắt ra chết tốt. Theo đà này, dưới ngàn tỉ Đô đủ bù lỗ được bao lâu?  Mau lắm hả?


Thì đã bảo là giấc mộng kê vàng đó thôi.

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Một Viễn Tượng Chuyển tiếp Dân Chủ Ở Việt Nam


Có thể nói rất nhiều người Việt Nam hiện nay, kể cả trong lực lượng an ninh, đã rất chán chường chế độ chính trị hiện tại, nhưng việc hình dung và tin tưởng vào một chế độ mới (thường được nhiều người gọi là “dân chủ”) thì có lẽ không nhiều người, cả trong những người chán chường đó, cảm thấy chắc chắn hay an tâm. Bài viết tâm huyết sau đây có thể phần nào đáp ứng được tâm lý băn khoăn đó. Như Cây Tre Việt Nam hân hạnh giới thiệu:

Một Viễn Tượng Chuyển tiếp Dân Chủ Ở Việt Nam

Khải Minh

Qua quan sát các diễn tiến chính trị trên thế giới trong khoảng nửa thế kỷ qua, các mô thức chuyển tiếp dân chủ đã xảy ra thường là: Cách mạng, đảo chính, thương thảo đàm phán giữa các lực lượng chính trị cũ mới, hay những thay đổi tiệm tiến thông qua cải cách của chế độ độc tài (quân sự hay toàn trị…) hợp tác với các lực lượng chính trị khác trong nước, cùng tất cả các hệ quả phát sinh của từng mô thức có thể cực kỳ khác nhau tại các khu vực hay quốc gia khác nhau.

Diễn biến Dân chủ tại Việt Nam sẽ theo mô thức nào? Sẽ thuộc một trong các mô thức cổ điển (đã diễn ra) hay sẽ theo một mô thức hoàn toàn mới? Hay sẽ không bao giờ xảy ra vì sẽ bị xóa tên và sát nhập vào Trung Quốc? Đến nay, tất cả mọi khả năng đó vẫn hoàn toàn bỏ ngỏ cho Việt Nam. Nhưng đó không phải là trọng tâm của bài viết này. Ở đây chúng tôi chỉ xin đề cập tới một số vấn đề cơ bản trên giả định lạc quan rằng Diễn biến Dân chủ ở Việt Nam sẽ tiến tới thời điểm chuyển tiếp (transition) giữa chế độ cũ và chế độ dân chủ mới đang hình thành.

Rất ít các trường hợp Diễn biến Dân chủ thành công mà không tạo ra sóng gió, chao động xã hội trong mọi chiều trong một thời gian. 

Tuy vậy, điều này không có nghĩa là các rối ren xã hội trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển tiếp dân chủ là nguyên nhân chính của các thất bại sau đó. Cũng vậy, các khó khăn trong việc quản trị các yêu cầu, đòi hỏi, kỳ vọng quá mức của xã hội trong thời gian đầu cũng không phải là nguyên nhân chính của các sự thất bại dân chủ hóa. Nguyên nhân chính của các cuộc Diễn biến Dân chủ (đã tới giai đoạn chuyển tiếp) bị thất bại hay bị trì trệ thường là do thiếu khả năng cải cách và xây dựng nhanh chóng các cơ cấu dân chủ trong cấu trúc công quyền tân lập, hoặc sự thiếu quyết tâm của giới lãnh đạo để tiến hành dân chủ hóa, hoặc các mâu thuẫn chính trị nội tại trong chế độ tân lập.

Quản trị các hệ quả của việc thay đổi cấu trúc chế độ

Vấn đề gai góc cơ bản trong sự chuyển tiếp từ chế độ toàn trị sang chế độ dân chủ là việc quản lý sự thay đổi cấu trúc mà trước đó, toàn thể xã hội chỉ dựa lên một cột chống duy nhất, hoặc là giới quân đội trong các chế độ độc tài như Philippines hay Indonesia, hoặc là Đảng Cộng sản như trong trường hợp Việt Nam. 

Nhưng trong trường hợp Việt Nam, vốn bị cai trị dưới chế độ cộng Sản lâu dài dưới một chính quyền có cơ chế phản tự do, phi dân chủ và hoàn toàn bị kiểm soát trong các thiết chế do Đảng Cộng sản lập ra thì không thể thực hiện dân chủ trong xã hội nếu không có các thay đổi căn bản và có hệ thống.

Dĩ nhiên các cơ chế dân chủ sẽ được xây dựng trên nguyên tắc tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp) với hệ thống kiểm tra và quân bình quyền lực sẽ được lắp đặt thông qua luật lệ hay cấu trúc quản trị như hệ thống hành chính hay các cơ quan công quyền phụ trách quản trị xã hội.

Như vậy những cá nhân lãnh đạo và làm việc trong hệ thống quản trị xã hội tân lập cần phải ý thức sâu sắc về sự vận hành của cơ chế tân lập, qua đó, quyền hạn hành xử công vụ và tiến trình làm quyết định sẽ thông qua ba cơ chế hành pháp tư pháp độc lập và công khai, với sự giám định, kềm chế lẫn nhau chứ không còn lệ thuộc vào một trụ cột lãnh đạo như đảng cộng sản theo kiểu chỉ đạo từ Bộ chính trị hay họp kín lấy quyết định trong chi bộ như trước nữa. Thêm vào đó, cơ chế tân lập nhằm đảm bảo an ninh và công bằng xã hội cho mỗi người dân chứ không phải là lý cớ để tạo ra một bộ máy hành chính thư lại cồng kềnh và kém hiệu năng.

Nhưng cũng thông qua quá trình chuyển biến sẽ trỗi lên nhiều lực lượng chính trị.  Các lực lượng phe nhóm đã tham gia vào công cuộc đấu tranh cần phải có khả năng thống nhất về quan điểm phân quyền, để góp phần xây dựng xã hội mới theo mô thức dân chủ thay vì chống đối nhau trên căn bản chia chác quyền lực, quyền lợi, rồi từ đó nêu ra đòi hỏi phải lắp đặt thêm nhiều cấu trúc công quyền hữu danh vô thực chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu "trả nợ công thần cách mạng". Vấn đề này nói qua nghe chừng rất ngắn gọn và đơn giản nhưng thực tế phức tạp hơn nhiều vì nhiều cuộc cách mạng dân chủ đã đổ bể hay trì trệ ở ngay giai đoạn chuyển tiếp chỉ vì nhiều cá nhân thấy “công lao, đóng góp” của mình quá lớn so với những “quyền lực, danh vọng” của mình đạt được. Vì vậy viễn tượng dân chủ sẽ càng xán lạn nếu có nhiều người đấu tranh hôm nay coi việc đóng góp, hy sinh đã là một vinh hạnh chứ không phải là một bước đặt chân vào quyền lực tương lai.

Ngoài ra, có một điểm chính yếu nữa là các thành phần chính trị cầm quyền cần giữ vững lập trường xem trọng những khác biệt quan điểm trên toàn xã hội như một cơ hội thăng hoa sáng kiến, cung ứng cho xã hội một sự lựa chọn với nhiều giải pháp, thông qua tuyển cử các nhân vật lãnh đạo, đầu phiếu tại nghị trường cho các bộ luật, thay vì xem hình thái khác biệt quan điểm là dấu hiệu của rối loạn, rồi thực thi các biện pháp khống chế, giới hạn, vô tình hay cố ý đưa đến các hậu quả áp đặt phi dân chủ nhằm loại bỏ hay làm suy yếu các đối thủ - nguy cơ đưa xã hội vòng trở lại độc tài.

Một vấn đề cấu trúc hậu kỳ nữa là việc hội nhập cấu trúc công quyền cũ vào cấu trúc tân lập. Đây cũng là vấn đề lớn nhằm tiết kiệm chi phí, gánh nặng đóng góp của người dân, nhưng cũng cần có những quan tâm đúng mức để sự hội nhập không dẫn đến các mâu thuẫn, va chạm xã hội không cần thiết trong các vấn đề nhân dụng.

Kết quả Diễn biến Dân chủ cũng bị ảnh hưởng tùy thuộc vào việc ứng phó với các cơ chế toàn trị của xã hội cũ. Nhanh chóng ly khai với bộ máy toàn trị cũ rất cần thiết cho tiến trình dân chủ hóa. Trong trường hợp Việt Nam, cần phải được tháo gỡ tức khắc những gì thuộc về:

1/ Xây dựng chính danh cho chế độ toàn trị đã được cài đặt trong pháp chế cũ, bắt đầu từ Hiến Pháp cho đến tất cả các luật lệ, qui định. 

2/ Toàn bộ hệ thống quản trị của Đảng Cộng Sản đan chéo vào các cơ quan công quyền và quân đội, cùng với 

3/ Toàn bộ các bộ phận trực thuộc bộ máy an ninh, công an dùng để thực hiện việc khống chế, trấn áp xã hội.

Tuy nhiên thực hiện điều trên đây không có nghĩa là trấn áp, tù đày hay tiêu diệt nhân sự của đảng CSVN hay của các cơ quan an ninh, công an của chế độ CSVN.  Ngược lại, toàn bộ số nhân sự này cũng nhất thiết phải được đối xử như một pháp nhân bình đẳng trước pháp luật trong nền pháp chế tân lập.

Tuy thế, hẳn nhiên là sẽ có sự đề kháng từ các thành phần này, sẽ liên kết với các thành phần trung thành cũ, vì lo sợ bị ảnh hưởng, xâm phạm đến an sinh cá nhân như cựu chiến binh, công chức, đảng viên hưu trí,v.v. Nhưng điều này cũng không phải là lý do gây ra thất bại nếu trong xã hội có đủ lực lượng công chúng cương quyết thực thi dân chủ để làm đối trọng, để kềm chế, làm an tâm các bất an, nghi kỵ và hóa giải các nỗ lực phá hoại.

Vượt qua các khó khăn của việc thiếu kinh nghiệm thực thi dân chủ

Có thể nói Việt Nam có rất ít kinh nghiệm về thực hiện dân chủ mặc dù trong nhiều năm qua các trao đổi về vấn đề dân chủ trong khối quốc dân toàn quốc cùng những người Việt ở hải ngoại đã tạo nên một số căn bản, ít nhất là trong một số khái niệm căn bản về cơ cấu, thực thi, và ích dụng của một cơ chế chính quyền dân chủ.

Nhìn lại lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến nay thì chỉ có người dân ở miền Nam mới được biết bằng thực tế và được hưởng thực sự dân chủ. Tuy vậy, thể chế dân chủ tại Miền Nam trước 1975, trong khoảng thời gian hai mươi năm dưới một chính thể dân chủ còn rất non trẻ, nhiều khiếm khuyết, và vừa bị phá hoại liên tục, lại luôn bị gián đoạn từ sau cuộc chính biến 1963 lật đổ nền đệ nhất cộng hòa dưới quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm để sau đó thay thế và kế tục bằng nền dân chủ đệ nhị cộng hoà với các chính phủ nặng ảnh hưởng của giới quân nhân. Ngoài ra, trong chiến tranh Việt Nam đã có các nỗ lực quyết liệt phá hoại chính quyền dân chủ tại Miền Nam Việt Nam do chế độ cộng sản Miền Bắc phát động, và sự khuynh đảo của các thành phần cộng sản và thân cộng sản. Do đó, cùng với thời gian 37 năm qua phải sống dưới chế độ cộng sản và một số lớn trí thức miền Nam đã di cư ra nước ngoài, những gì còn ghi nhận được trong tâm trí người dân Miền Nam về dân chủ còn rất ít và cũng chỉ có rất ít ích dụng thực tiễn trong việc xây dựng một thể chế dân chủ tân lập hậu cộng sản, ngoại trừ sức đề kháng chính quyền độc tài vẫn còn và cùng đang tăng lên với nhân dân Miền Bắc hiện thời.

Các thử thách bao gồm việc cởi bỏ tâm lý người dân vốn đời sống thường đã bị Cộng sản lâu đời khống chế và chi phối toàn diện, với hệ quả là xã hội quen với kiểu làm ăn và sinh hoạt tránh né các quan hệ với chính quyền hoặc thậm chí tìm cách móc ngoặc hối lộ để tìm các lợi thế. Ngoài ra, phần đông dân số còn nuôi nhiều tâm lý sợ hãi. Sợ hãi phải tự bươn chải kiếm sống trong thị trường lao động và kinh doanh tự do, sợ hãi khi thực thi quyền tự do ngôn luận, phát biểu, bày tỏ quan điểm hay phê bình, chỉ trích công khai các nhân sự, cơ quan chính phủ thì sẽ bị trù dập, trả thù, sợ hãi bộ máy an ninh cảnh sát và tư pháp khi giải quyết các tranh chấp và khiếu tố các bất công dân sự và xã hội,...

Mặt khác, có một thử thách khác là sau 70 năm dưới chế độ độc đảng và toàn trị, xã hội sẽ không có kinh nghiệm sinh hoạt lành mạnh trong một môi trường cạnh tranh chính trị đa nguyên. Cho nên sẽ dễ phát sinh ra các xu hướng nhân danh sinh hoạt dân chủ mà thực tế là gây ra nạn kéo bè kết cánh để loại trừ nhau giữa các thế lực nội bộ một nhóm, một đảng phái chính trị hay giữa các nhóm, các đảng phái chính trị với nhau tạo nên một hình thái manh mún ba người năm đảng hay chia rẽ phân liệt. Hậu quả là công chúng sẽ chán ghét và xa lánh các sinh hoạt chính trị. 

Điều này từng xẩy ra trong một thời gian dài trong các cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại, đặc biệt là tại Hoa Kỳ mặc dù chính họ là các nhân tố đã có ít nhiều kinh nghiệm bản thân về chế độ dân chủ tại Miền Nam Việt Nam, họ vẫn không tránh khỏi các khiếm khuyết về kinh nghiệm khi bỗng chốc được sống ngay trong một môi trường lạ lẫm nhưng hết sức tự do tại hải ngoại trong khi đi tị nạn cộng sản, khiến nhiều tác nhân đã có các lầm lẫn tai hại giữa quyền hạn và nghĩa vụ dưới một chính thể dân chủ mở rộng tại Hoa Kỳ, khiến gây ra nhiều mâu thuẫn nội tại hơn là cùng nhau tìm được cách hóa giải các vấn đề mà họ muốn giải quyết. Ở đây tạm không nói đến các tác nhân phá hoại chủ động do Đảng Cộng sản từ trong nước điều khiển. Kết quả là sự phân hóa xẩy ra trầm trọng đến độ nhiều người dân trong các cộng đồng này cho đến nay vẫn còn né tránh các sinh hoạt chính trị, bao gồm cả các sinh hoạt dòng chính trong xã hội Hoa Kỳ.

Do vậy, trong trường hợp Việt Nam, thiếu kinh nghiệm quá khứ trong việc xây dựng các cơ cấu dân chủ cũng chưa hẳn là vấn đề nan giải nhất vì các kinh nghiệm (ít ỏi) này, nếu có, cũng sẽ chẳng mang lại nhiều ích lợi cụ thể ngoài các tác động tích cực lên yếu tố tinh thần và nhận thức của công chúng.

Những điều nêu trên đây cũng sẽ khiến cho Việt Nam phải đối phó với các khó khăn tương đối trong việc xây dựng các cơ cấu dân chủ và khuyến khích người dân tham gia vào các cơ chế này một cách năng động. Tuy nhiên Việt Nam cũng có ít nhất hai lợi thế (công cụ) để hóa giải các khó khăn đó. Thứ nhất, nguồn trí tuệ của các chuyên gia có gốc gác Việt Nam có kinh nghiệm thực tiễn cá nhân về các cơ chế dân chủ tại hải ngoại và các học giả, nhà nghiên cứu (cả trong và ngoài nước) thiết tha với dân chủ trong mấy chục năm qua sẽ giúp ích không ít trong việc đề nghị các giải pháp xây dựng các cơ cấu của cả ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp cùng với một cơ cấu kinh tế tự do thích hợp. Thứ hai, lịch sử Việt Nam có thể cung cấp một số tấm gương, bài học có những tương đồng với tinh thần tôn trọng dân chủ tự do (theo ý niệm hiện đại) để quảng bá và khuyến khích người dân tham gia vào các tiến trình thực thi dân chủ như bầu cử và hành xử các quyền tự do căn bản sẽ giúp cho người dân dễ dàng thiện cảm và tự tin hơn trong các sinh hoạt thực hành dân chủ từ đó việc tiếp cận của toàn xã hội với cơ chế dân chủ dưới các hình thái cập nhật đương đại sẽ thuận lợi hơn.

Thành lập cơ cấu kiểm tra dân chủ đối với cơ chế công quyền đặc biệt là quân đội và ngành an ninh và trị an

Những thành phần, bộ phận thuộc quân đội và thuộc bộ máy an ninh trị an của chế độ cộng sản vẫn có thể tham gia và có những đóng góp tích cực trong suốt quá trình chuyển biến dân chủ. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là cơ chế hoạt động tùy tiện, bạo lực của các bộ máy, thành phần này sẽ được lưu dụng hay được đối xử ưu đãi hơn trong hậu kỳ xây dựng cơ chế dân chủ tân lập.

Nhân sự thuộc các thành phần này dĩ nhiên sẽ có ưu tiên hội nhập hay lưu dụng vào cơ chế mới, nhưng cũng phải thông qua quá trình tái huấn luyện chung cho toàn bộ nhân sự còn được lưu dụng để tạo ra một môi trường làm việc và sinh hoạt trật tự và có kỷ luật với nguyên tắc và trong tinh thần dân chủ. Thêm vào đó, việc tái huấn luyện này cũng giúp giảm thiểu các trì trệ cố ý, và những đề kháng thuộc xu hướng "ngựa quen đường cũ". 

Như trên đây đã có đề cập qua, tất cả các cơ chế độc đoán, bí mật, trấn áp đã được lắp đặt trong hệ thống quân đội hay an ninh cũ nhằm vào mục đích bảo vệ, củng cố chế độ toàn trị cần phải được nhanh chóng tháo bỏ. Và để bảo đảm các bộ phận còn lại của quân đội và an ninh vận hành đúng đắn, nghiêm minh trong cơ chế dân chủ tân lập, nhất thiết phải có bộ máy thanh tra mà cấu trúc tổ chức phải có tính thượng tôn tinh thần dân chủ pháp trị để ngăn ngừa mọi trường hợp lạm quyền, ngược đãi hay trả thù.

Và như mọi cơ chế dân chủ phổ thông khác trên thế giới, nhân sự thuộc quân đội, an ninh và trị an sẽ hành xử nhiệm vụ của mình luôn luôn một cách thống nhất, đặt dưới quyền hạn trực thuộc của các viên chức dân tuyển (tổng thống, tỉnh trưởng, quận trưởng là các viên chức chính quyền được bổ nhiệm thông qua dân tuyển ...)  Ngoài ra, bộ máy thanh tra kể trên còn có trách nhiệm về mặt qui định và chế tài để bảo đảm tính vô tư trong khối nhân sự của chính quyền là không có sự lạm dụng chính trị thuộc quân đội hay trong bộ máy an ninh, trị an. Các quan chức lãnh đạo quân đội, an ninh trị an cũng như tất cả các nhân viên công quyền khác, tuyệt đối không được phép dùng phương tiện công quyền hay tư nhân để quảng bá sự ủng hộ cá nhân hay tập thể đối với một phe phái chính trị nào, kể cả phe đương quyền. Ngắn gọn lại thì bộ máy cảnh sát, an ninh và quân đội phải được phi chính trị hóa tuyệt đối, tất cả chỉ phục vụ tổ quốc và nhân dân.

Việc thành lập bộ máy kiểm tra và thanh tra trực thuộc cơ chế tư pháp và toà án, đặc phái công vụ dưới các ngành công quyền liên hệ, với đầy đủ thẩm quyền hành xử nhiệm vụ độc lập không lệ thuộc vào hệ thống chỉ huy hàng dọc của ngành công tác thì sẽ có tinh minh bạch trong một cơ chế công quyền dân chủ. 

Và trong khi chuyển hóa từ một chế độ toàn trị cộng sản lâu đời với nhiều hệ lụy di căn trầm trọng về nhũng lạm, tham ô, lộng quyền ...thì công việc này cần phải nhanh chóng thực hiện với ưu tiên cao nhất.

Thực hiện các cuộc tuyển cử dân chủ đầu tiên

Khi xã hội đã bắt đầu vãn hồi trật tự tối thiểu, hệ thống quân đội, an ninh trị an đã tạm thời ổn định thì cũng là lúc cuộc Diễn biến Dân chủ nên tiến hành các cuộc tuyển cử thực sự tự do đầu tiên. 

Thử thách về thời điểm tổ chức là nếu những cuộc tuyển cử xẩy ra sớm quá, thì dân tình chưa được ổn định, đời sống sinh hoạt còn nhiều khó khăn, và những thành phần xã hội khác cũng chưa đủ thời giờ chuẩn bị để cùng toàn dân tham gia.  Mặt khác, các việc tổ chức tuyển cử quá sớm cũng giống như tạo ra một sân chơi không bình đẳng theo đó các phe nhóm chính trị có thực lực mạnh hơn có thể áp lực khuynh đảo những kết quả bầu cử, khiến xã hội sau đó sẽ phải sinh hoạt trong một môi trường chính trị khá phiến diện, đơn điệu.

Tuy không có một ghi nhận nào trước đây về ảnh hưởng tốt xấu của việc tổ chức tuyển cử sớm hay muộn trong một cuộc Diễn biến Dân chủ, nhưng những lợi ích thực tiễn của việc tổ chức các cuộc tuyển cử hay trưng cầu dân ý (để kiện toàn hay ban hành một hiến pháp mới tiếp theo sau bằng các cuộc tuyển cử) qui định bởi bản hiến pháp dân chủ một cách đúng lúc là một trong những việc thiết yếu nhằm kiện toàn nền móng dân chủ. Các sự kiện này sẽ giúp thống nhất ý chí quốc gia trong toàn dân và ngăn ngừa được những ý đồ phá hoại.

Điều này đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam, khi toàn bộ cơ cấu chính quyền của Việt Nam đã được đặt dưới cấu trúc quản trị kiểu cộng sản rất lâu, theo đó, bộ máy công quyền gồm tất cả cơ chế lập pháp, hành pháp tư pháp đều đã bị cài đặt theo hệ thống tập quyền cực độ. Bên cạnh đó, gần như song lập và song hành trên mọi cấp độ, lại là một hệ thống quản trị cực quyền khác là cơ chế Đảng, lại có nhiều quyền lực hơn để khống chế hệ thống công quyền. Các thay đổi vá víu và chắp nối trong cơ chế công quyền trong thời kỳ “đổi mới” từ năm 1986 đến nay để gọi là bổ sung cho việc quản trị cơ chế “kinh tế thị trường định hướng XHCN” đã chứng tỏ không giúp ích gì khác hơn là phát sinh thêm vô số những tròng tréo rối ren cho cấu trúc chính trị và tạo thêm cơ hội cho những kẻ đục khoét, phá hoại quốc gia nặng nề hơn.

Cho nên những cuộc tuyển cử, bắt đầu bằng việc tổ chức một cơ chế quốc dân đại biểu lâm thời, để thông qua một bản hiến pháp mới là một nhu cầu bức thiết. Tuy vấn đề mở rộng để bao gồm tất cả các thành phần chính trị quốc dân trong cơ chế đại biểu quốc dân lâm thời trên đây là rất cần thiết, điều cần lưu tâm là các thành phần lãnh đạo phong trào dân chủ cần phải giữ quân bình trong khi thương lượng các điều kiện tham gia với tất cả mọi thành phần chính trị, để bảo đảm bản hiến pháp tân lập là một bản hiến pháp trung thực phản ảnh ý chí độc lập, dân chủ của quốc dân với các cơ chế hành pháp, lập pháp và tư pháp phân lập, có kiểm tra, có quân bình quyền lực thực tiễn.

Thanh lý các bất công trong quá khứ

Cơ chế toàn trị độc đảng của Việt nam hẳn nhiên khi trải qua một Diễn biến Dân chủ sẽ phô bày toàn bộ những bất công dồn lại từ gần hoặc trên 70 năm. Trách nhiệm thanh lý các bất công này không phải là nhỏ. Các quyết định hành chính, tư pháp liên quan đến việc thanh lý bất công trong quá khứ sẽ là một thử thách chính trị cho quyền lực của chế độ dân chủ và cho cơ chế công quyền tân lập trong việc thực thi công lý dân chủ. 

Xử lý bất công bao gồm việc xác định, kê khai, tổng hợp và xử lý tư pháp đối với các cá nhân, đoàn thể, tổ chức phe nhóm đã vi bội quyền lợi quốc gia, đã bức hại công dân trong quá khứ, và việc đánh giá, giải quyết các thiệt hại về quyền lợi quốc gia, công dân. 

Nhiều cuộc Diễn biến Dân chủ gần đây trên thế giới đã nhanh chóng đưa các cá nhân lãnh đạo chế độ cũ ra tòa xét xử. Việc này thường được công chúng nhất thời hoan nghênh cao vì tạo được tâm lý là công lý được nhanh chóng thực thi. Nhưng thủ tục tố tụng gấp gáp, bên cạnh việc bất khả thi đối với những trường hợp các cá nhân có trách nhiệm trong chế độ cũ đã đào thoát và việc dẫn độ có thể gặp khó khăn, trì trệ, có khi nhiều năm, có thể dẫn đến kết luận không chính xác thì lại sinh ra phản tác dụng đối với niềm tin của công chúng về năng lực của ngành tư pháp mới và chế độ dân chủ tân lập.

Ngoài ra, việc loại bỏ một số lớn các nhân viên thừa hành trong hệ thống quốc doanh cũ cũng có thể tạo nên thử thách cho chính quyền mới vì thiếu nhân viên chuyên nghiệp, có kinh nghiệm chuyên môn hay kỹ năng trong công việc thường nhật.

Trên hết, là xử lý các thiệt hại đã gây ra cho quốc gia và công dân trong quá khứ.  Trong nhiều trường hợp, các khó khăn về thủ tục tố tụng trong chế độ dân chủ lại nằm ở chính tính chất chi li hơn, thận trọng hơn của dân chủ nhằm bảo đảm công lý được áp dụng bình đẳng với mọi pháp nhân, kể cả đối với các nghi can. Điều đó chắc chắn sẽ gây thêm khó khăn cho chế độ dân chủ tân lập về thời gian, nghiệp vụ và công quỹ. Các khó khăn mặt khác sẽ còn nhiều và phức tạp hơn khi muốn truy tìm và thu hồi tài sản bất chính tại ngoại quốc.

Nhưng cũng không thể tuyên bố bỏ qua quá khứ để hướng đến tương lai theo kiểu tuyên truyền phiến diện. Những tồn đọng về lịch sử, tâm lý và những mất mát thiệt hại hữu hình về con người và vật chất trong quá khứ đối với toàn bộ các thành phần người dân gộp lại thường quá lớn, chưa kể một tâm lý trông ngóng công lý quá nóng bỏng của dân chúng, để chính quyền mới có thể bỏ mặc, hoặc thanh lý theo kiểu đáp ứng từng phần, nhỏ giọt.

Phần lớn các khó khăn trên sẽ phải được giải quyết bằng những quyết định trên mặt chính sách và hành chính được hỗ trợ bằng các phương tiện tố tụng tư pháp cùng với việc áp dụng các luật lệ ban hành thông qua ngành lập pháp đặt định riêng biệt cho một trương mục: thanh lý bất công.

Nói đơn giản hơn, là quốc gia thông qua các cơ quan lập pháp và hành chính sẽ đưa ra các chính sách, luật lệ về thanh lý bất công, và bộ máy tư pháp sẽ xây dựng một cơ chế đặc biệt phụ trách và công bố kết quả tác dụng của chính sách này nhằm tạo được sự an tâm trong công chúng rằng công lý sẽ được thực hiện đến kỳ cùng, trên mọi mặt nhưng cũng cần phải khẳng định việc thực hiện công lý là nhằm để ổn định xã hội, xây dựng một tinh thần công bằng chứ không phải hướng tới sự trả thù, làm thỏa mãn tâm lý cay nghiệt. Nhưng các công việc này do được tổ chức độc lập với cơ chế đặc nhiệm, sẽ không ảnh hưởng đến bộ máy công quyền và sinh hoạt quốc dân trong đời sống hàng ngày phải đương đầu với các khó khăn với những điều tiết, thay đổi trong cơ chế dân chủ mới. Đồng thời với một hệ thống báo chí tự do và quyền ngôn luận tự do được tôn trọng, mọi ý kiến, quan điểm, triệt để cũng như trung dung, cực đoan cũng như nhân từ, sẽ đều được bày tỏ trên công luận sẽ mang lại một sự tham chiếu đầy đủ các mặt cho những người làm chính sách hòng tránh được các quyết định phiến diện, thiên vị, nương tay hay quá tay đối với những tội ác cần bị trừng phạt và sẽ giúp cho xã hội nhanh chóng thoát khỏi tâm lý hận thù, ân oán hay sợ hãi, lẩn tránh để tiến tới một xã hội hòa giải, bình ổn, cùng sống hòa bình trong sự khác biệt – cái đích của dân chủ.

Vấn đề thanh lý bất công và tạo dựng sự bình ổn xã hội trong giai đoạn hậu toàn trị cũng có thể tham khảo, áp dụng nhiều kinh nghiệm, bài học từ những diễn biến thành công đi trước trên thế giới như tại Nam Phi hay sau nội chiến Hoa Kỳ.

Đối phó với các vấn đề kinh tế

Sự chính danh của chế độ cộng sản hiện nay trong thực tế chỉ còn vịn được vào những thành tựu kinh tế. Nhưng các thành tựu kinh tế được thổi phồng lên qua hệ thống báo cáo và thống kê theo kiểu tăng thành tích, giấu thất bại qua bộ máy tuyên truyền một chiều trên các phương tiện truyền thông cho đến nay đã thất bại để trơ ra trước mặt quốc dân các khung sườn kinh tế bại hoại, mục rữa, mà công khố thì rỗng, nợ nần ngoại bang tăng vọt, còn sinh hoạt người dân trong xã hội thì ngày càng sa vào cảnh khó khăn, hố ngăn cách giàu nghèo trong xã hội mỗi ngày thêm sâu thẳm.

Những khó khăn, tàn phá kinh tế lên đời sống kinh tế quốc dân dưới thời kỳ toàn trị độc đảng, đặc biệt là tệ nạn, bất công xã hội là một trong những tác nhân quan trọng nhất đã thúc đẩy nhu cầu thay đổi và yêu cầu Diễn biến Dân chủ. Do đó cải cách kinh tế là một vấn đề hết sức thiết yếu và luôn được chú tâm đối với quốc dân trong một chế độ tân lập sau toàn trị cộng sản.

Trong một cơ chế kinh tế thị trường tự do dưới chế độ dân chủ tân lập các thử thách trong việc tháo bỏ các thành phần thuộc bộ máy kinh tế quốc doanh cũng sẽ phát sinh. Thêm vào đó, tiến trình chuyển đổi cơ chế kinh tế cũng sẽ phát sinh ra các thử thách mới về quản lý nhân dụng, tổ chức khai thác phân phối tài nguyên và các nỗ lực để san định, tạo ra một sân chơi bình đẳng, công bình cho mọi giới đầu tư trong và ngoài nước cũng sẽ sinh ra nhiều thử thách mới mẻ. Tất cả các khó khăn mới này, có thể trong thời gian đầu, chưa cho phép cải thiện thu nhập, đời sống kinh tế của người dân.

Nhưng vạch ra và công bố một cách chi tiết tất cả các khó khăn này sẽ làm gia tăng sự hiểu biết minh bạch của toàn dân để vận động tham gia, đóng góp sáng kiến giải quyết thì sẽ tránh được các thất vọng, hiểu lầm cho rằng đây là thất bại của chế độ dân chủ tân lập. 

Tuy nhiên chưa nhất thời cải thiện được tiêu chuẩn đời sống kinh tế bình quân cho toàn dân thì không có nghĩa là sẽ có nhiều người đói nghèo hơn dưới thời cộng sản toàn trị. Việc duy trì lương hưu và các chế độ đãi ngộ đối với các công chức tại vị hoặc đã hưu trí cũng không phải là một vấn đề quá khó khăn nếu hình dung rằng các nguồn lực đã từng bị nhũng lạm hàng chục ngàn tỷ đồng như hiện nay được đưa vào các quĩ hưu trí hay phúc lợi xã hội.

Kinh nghiệm tại các nước Đông Âu đã chứng minh điều này. Mặc dù, do các thiệt hại kinh tế đã gây ra, phải mất một thời gian khá lâu cho các nước này khởi sự có các chỉ dấu cải thiện đời sống kinh tế toàn dân và mức thu nhập bình quân, nhưng nhất thời các thành phần nghèo khó nhất đã ngay lập tức được cung ứng các trợ cấp nhà cửa, lương thực, dịch vụ y tế, học vấn cho con em, và giúp kiếm việc làm... 

Và cũng theo kinh nghiệm, thì chính những chính sách này đã ngay lập tức giúp giảm áp lực xã hội lên đời sống thường nhật và thay đổi tư duy của một số đông các thành phần có quan điểm bảo thủ hơn trong xã hội. Để giúp phần lớn cho việc tài trợ các chính sách công ích xã hội này thành công, các giới đồng bào hải ngoại cũng sẽ là một lực lượng đáng kể nếu không muốn nói là lực lượng quyết định, bên cạnh các chương trình ngoại viện trợ giúp xã hội thông thường.

Trên một ý nghĩa nào đó, các chính sách xã hội, cứu tế trong trường hợp các nước toàn trị cộng sản Diễn biến Dân chủ, lại mang tác động tích cực về kinh tế, và gia tăng kết nối trong xã hội, nhất là trong trường hợp Việt Nam, vốn có truyền thống “lá lành đùm lá rách” và được thoát khỏi những lo ngại bị chính quyền chụp mũ là “trợ giúp cho phản động”. Sau nữa, những chính sách khuyến khích và giúp tổ chức các hoạt động dân vụ như vậy, trong một chính thể dân chủ tân lập, cũng sẽ giúp củng cố ý chí dân chủ cho toàn dân.

Ứng phó với môi trường đối ngoại

Trong trường hợp Việt Nam, các hứng khởi tạo ra trước các Diễn biến Dân chủ tại các nước Ả rập sẽ giúp ích thực tiễn về các kinh nghiệm chiến thuật trong việc tổ chức, vận hành chuyển biến. Cũng vậy, các chuyển biến tại các lân bang trong vùng Đông Nam Á như Philippines, Indonesia cũng giúp ích cho việc có một viễn kiến trung thực hơn về các giai đoạn của một cuộc Diễn biến Dân chủ. Nhưng tựu trung, các cuộc chuyển biến chính trị tại Trung Đông mang nặng màu sắc độc tài quân phiệt và tôn giáo và các hiện tượng chuyển đổi đã xảy ra ở Đông Nam Á đều ở các quốc gia độc tài không cộng sản. Trong khi đó cuộc Diễn biến Dân chủ tại Việt Nam lại mang mầu sắc đối phó với chế độ độc tài toàn trị kiểu cộng sản, nên ở những nơi đã đề cập sẽ có rất ít ứng dụng chiến lược thực tiễn vì khác đối tượng đấu tranh. 

Trường hợp Trung Quốc, tuy có điểm tương đồng về đối tượng đấu tranh như tại Việt Nam là chế độ cộng sản tập quyền độc trị, nhưng Trung Quốc với tầm vóc và khả năng khác hẳn với Việt Nam trên quá nhiều phương diện, chưa kể Trung Quốc lại là một đối thủ chính của Việt Nam nên sự phân tích có nhiều khúc mắc, đòi hỏi một công trình nghiên cứu tìm hiểu riêng biệt. Nhưng có thể chắc chắn rằng Trung Quốc, một khi vẫn còn giữ chế độ độc tài, sẽ làm hết sức để cản trở, phá hoại Diễn biến Dân chủ ở Việt Nam. Nhưng ngược lại, nếu một khi Việt Nam chứng tỏ được sự dứt khoát hoặc khi đã dứt được khỏi chế độ toàn trị độc đảng thì lĩnh vực ngoại giao của Việt Nam, kể cả trong vùng lẫn trên toàn cầu, sẽ được tiếp cận với những cơ hội vô cùng lớn để triển khai các mối quan hệ hết sức cởi mở, trung thực và hữu ích cho quốc gia và dân chúng, hoàn toàn không bị ràng buộc hay bị nghi kỵ bởi vấn đề ý thức hệ cộng sản khi quan hệ với các quốc gia khác hoặc phải quá trông chừng thái độ của Trung Quốc. Ngay kể cả các cá nhân cầm quyền nếu chứng tỏ được sự thành thật và quyết tâm đi theo lý tưởng tự do dân chủ sẽ tức khắc có được ủng hộ và yểm trợ mạnh mẽ, hiệu quả từ thế giới dân chủ và Liên Hợp Quốc. Dĩ nhiên, dân chủ hóa Việt Nam không đồng nghĩa với việc trở thành thù địch hay chống lại Trung Quốc, kể cả Trung Quốc độc tài như hiện nay. Một chính sách khôn ngoan, hòa hảo và độc lập như Nhật Bản, Hàn Quốc hay thậm chí như Đài Loan với Trung Quốc là một chính sách đáng tham khảo. Khi đó dù Trung Quốc có không hài lòng thì cũng không thể thực hiện được mưu đồ phá hoại hay cản trở dân chủ tại Việt Nam. Tất nhiên một cái giá của dân chủ hóa Việt Nam phải trả cho quan hệ bang giao với Trung Quốc sẽ là những tài trợ, hỗ trợ ngầm từ Trung Quốc cho các cá nhân cầm quyền và những thân hữu của họ như hiện nay sẽ không còn nữa. Nhưng đổi lại cả quốc gia và những người cầm quyền mới sẽ không bị phụ thuộc, ràng buộc vào một chính thể hoang dã và luôn là đối thủ của dân tộc suốt hàng ngàn năm qua nữa.

Một khi đã bước chân được vào con đường dân chủ thì vấn đề đồng minh chiến lược toàn diện với những siêu cường như Mỹ hay Anh, Pháp sẽ không còn bất kỳ một cản trở nào ngoài sự chuẩn thuận của quốc hội hay trưng cầu ý dân. Sức mạnh ngoại giao của Việt Nam sẽ ở một tầm cao theo đúng năng lực và yêu cầu của dân tộc mà không còn phụ thuộc vào ý chí hẹp hòi, tư lợi của một cá nhân hay một đảng chính trị như đã và đang thấy nữa.

Một trong những điều cần quan tâm nữa là trong suốt quá trình diễn biến, khởi đầu từ trong giai đoạn chuẩn bị đấu tranh, các giới lãnh đạo phong trào dân chủ cần nhất thiết giữ mối liên hệ và các kênh thông tin với tất cả các quốc gia có quan hệ chiến lược trong vùng với Việt Nam và các quốc gia khác trên thế giới. Quảng bá các bước đi chiến lược, các lộ đồ, và các dự án kiến tạo dân chủ với họ sẽ giúp tạo ra một khối đồng minh, sẽ thu nhận được những hỗ trợ, khuông viện trên mọi mặt. 

Ngoài ra, về phương kinh tế, với nguồn thông tin minh bạch và trực tiếp từ phong trào dân chủ, giới đầu tư ngoại quốc sẽ yên tâm về một viễn cảnh là một khi Diễn biến Dân chủ thành công, quyền lợi sẵn có của họ tại Việt Nam sẽ được bảo đảm, tương lai kinh doanh của họ sẽ đạt được nhiều cơ hội phát triển trong sự ổn định của một cơ chế thị trường tự do, trên một sân chơi có tính bình đẳng, công bằng vượt trội so với thời toàn trị cộng sản.

Tạm kết

Đối với người dân thường thì việc trình bày tất cả dự kế đấu tranh sẽ giúp người dân hiểu rõ mục tiêu của phong trào dân chủ là một công cuộc đóng góp của mọi người dân trong xã hội chứ không phải của riêng ai, và công cuộc đấu tranh tiếp theo đó để cứu nước và kiến thiết, canh tân xứ sở, xây dựng đời sống thực sự tự do, hạnh phúc cho mỗi người dân Việt Nam cũng đều là trách nhiệm và vinh dự của tất cả mọi người.

Đối với các cá nhân hay đoàn thể, tổ chức tự nhiệm vai trò lãnh đạo phong trào, đề nghi, một kế sách minh bạch như trên là kế sách khiêm tốn để tất cả các cá nhân, tổ chức lãnh đạo phong trào có cơ hội thấy rõ tầm vóc qui mô sừng sững thách thức của cuộc Diễn biến Dân chủ so với vai trò, năng lực khiêm tốn của mình trước đại sự quốc gia để cùng nhau gắng góp sức trong giới hạn khả năng của bản thân. Không một cá nhân hay đoàn thể cá biệt nào có thể đủ khả năng tự nhiệm toàn bộ công việc và trọng trách quốc gia. Và vì có kế sách công khai nên những phương cách lèo lái đại cuộc vì những mục đích tư ích đều sẽ sớm bị phát hiện và ngăn chặn bởi toàn dân, cho nên cách tốt nhất là tất cả cần phải hướng tới sự hợp tác chân thành vì công ích.

Đối với quốc tế, sự minh bạch của phong trào dân chủ sẽ giúp các quốc gia khác có những đáp ứng thích ứng. Mặc dù Diễn biến Dân chủ là một chuyển biến ý chí tự quyết, độc lập của người dân trong nước, các quốc gia khác trên thế giới, về mặt đối ngoại có thể dự kiến các phương thức hợp tác hữu hiệu, và các chiến thuật yểm trợ đối ngoại nếu cần.

Sau cùng, đối với những cá nhân thuộc bộ máy cai trị của Đảng và Nhà nước Cộng Sản Việt Nam thì các phân tích, đề nghị đưa ra ở đây sẽ chí ít giúp họ khẳng định thêm một nhận thức quan trọng:  Công cuộc Diễn biến Dân chủ để cứu đất nước ra khỏi hoàn cảnh sinh hoạt xã hội tụt hậu mọi mặt cực kỳ ngặt nghèo và các nguy cơ bị diệt vong rất cận kề nhất thiết phải tiến hành, dù bằng mô thức nào, dù nhanh hay chậm, nhất thiết phải thành công. Do vậy, mọi sự bất hợp tác hay chống đối, vi bội công trình kiến thiết chính thể dân chủ đa nguyên cho nước nhà sẽ không có giá trị ngăn chặn hay dẹp bỏ được trào lưu thời đại và ý chí người dân, mà chỉ có giá trị duy nhất là tự thân bước vào chỗ tiêu vong. Ngược lại, nếu họ hợp tác thì mỗi cá nhân họ tự ban cho bản thân một cơ hội để đóng góp, hội nhập vào xã hội theo chính thể dân chủ.

Như đã thưa, bài viết này hẳn nhiên không có tham vọng đề ra một kế hoạch, một dự kế cho phong trào dân chủ tại Việt Nam, bài viết này chỉ là những gợi ý, góp nhặt qua kinh nghiệm quan sát các phong trào và các Diễn biến Dân chủ trong thời gian gần đây trên thế giới.

Mục tiêu chính của bài viết này chỉ là một gợi ý để tham khảo và thảo luận.  Những thảo luận và những gì nối tiếp sau những cuộc thảo luận như thế để đưa đến những kết luận to lớn và đích xác hơn trong tương lai mới đích thực là quan trọng.○

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

Hoạt cảnh Biển Đông


Khải Minh

Giấc mộng Trung Hoa muốn tóm thâu thiên hạ của nòi Hán một lần nữa lại vùng lên mãnh liệt hơn bao giờ hết. Lộ đồ bành trướng của Trung Quốc lần này có qui mô trải dài khắp năm châu bốn biển, với chiến lược chính là lũng đoạn kinh tế. Và Biển Đông là một mắt xích quan trọng trong kế hoạch bành trướng của họ. Riêng tại khu vực Biển Đông thì do nhu yếu sinh tử về năng lượng và có vị trí địa dư quan trọng của khu vực đối với an ninh của Trung Quốc nên bằng mọi cách và bằng mọi giá họ phải chiếm lấy, và như ai nấy đã rõ, Trung Quốc sẽ không e ngại sử dụng vũ lực.

Ngay tại một địa bàn phên dậu của Trung Quốc trên đất liền là lãnh thổ Đông Dương, thì sự thâm nhập, lũng đoạn kinh tế đã tiến hành từ gần 70 năm nay, lúc nhặt lúc khoan, khi tiến khi lùi, nhưng đến nay đã đến lúc họ gặt hái thành quả. Sự thật là ba nước Việt Miên Lào đang nằm trong quỹ đạo chi phối của Trung Quốc, lãnh đạo của cả ba nước thực chất đang nhận chỉ đạo từ Bắc Kinh.

Thế giới làm gì? Cho đến hiện nay, thế giới làm được rất ít vì phải lo đối phó với khủng hoảng kinh tế rất nặng nề trong khu vực riêng của họ, cùng lúc phải đối phó với các tác động mạnh và hệ quả của suy thoái kinh tế trên toàn cầu lên mỗi nước.

Ngoài ra, hiện các quốc gia thuộc khối "lãnh đạo thế giới" - tựu trung là tại Tây Âu - lại không may rơi vào tay lãnh đạo của các phe nhóm chính trị xã hội, tả phái, cầu an, cho nên về kinh tế họ sẽ không có khả năng, về chính trị họ không có đảm lực phiêu lưu quân sự hay chính trị. Bài học liên minh quân sự trong trận chiến Iraq và trận chiến Afghanistan, ngoại trừ nước Anh có những đóng góp tuy nhỏ nhưng tích cực, còn lại tất cả là một minh chứng cho sự rụt rè của cả khối.

Còn lại là Hoa Kỳ

Tổng quan, Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất có khả năng ngăn chặn sách lược bành trướng của Trung Quốc. Vì quyền lợi kinh tế chiến lược và nhãn quan nhân quyền Hoa Kỳ chấp nhận và khuyến khích một nước Trung Quốc mở cửa và phát triển kinh tế để làm bạn hàng kinhh doanh tầm chiến lược, nhưng cũng vì một quyền lợi kinh tế chiến lược khác, là năng lượng, hay dầu khí, thì Hoa Kỳ từ lâu đã có vị trí đối đầu với ý đồ lũng đoạn của Trung Quốc (và Nga) tại các khu vực cung ứng dầu khí cho thế giới.

Hoa Kỳ đã và đang ngăn ý đồ lũng đoạn của Trung Quốc tại Phi Châu, Trung Đông, Cận Đông, Nam Á, và gần đây là cùng Na-uy tại khu vực Bắc Âu, ngăn Trung Quốc gia nhập vào Hội đồng Bắc Cực (Artic Council).

Bằng hành động quân sự hay các động thái chính trị, gián tiếp, hay trực tiếp, Hoa Kỳ đã ngăn bước Trung Quốc (và Nga). Dưới danh nghĩa chống khủng bố toàn cầu (để làm một công nhiều việc) qua cuộc tiến công vào Iraq Hoa Kỳ đã ngăn Trung Quốc (và Nga) đang tìm cách lũng đoạn vùng Trung Đông. Bằng cách tiến công vào Afghanistan Hoa Kỳ đã ngăn chặn ý đồ của Trung Quốc (và Nga) muốn mở đường vào điạ bàn Nam Á qua ngả Afghanistan và Pakistan. Lúc gần đây Hoa Kỳ lại triển khai Lực Lượng Đặc Biệt tại vùng Sừng Phi Châu và Ethiopia, Kenya, Ghana..., gọi là để truy sát lãnh tụ lực lượng phiến quân có liên kết với khủng bố, nhưng gián tiếp cũng là ngăn chặn Trung Quốc lũng đoạn các mỏ dầu tại Congo.

Riêng tại Châu Á Thái Bình Dương thì Hoa Kỳ đã chủ động - trong một phần của chiến lược toàn cầu- và từ trên năm năm qua- thực hiện nhiều bước để tái phối trí quân sự và triển khai lực phòng thủ tại Thái Bình Dương. Dưới thời Bộ Trưởng Quốc phòng Rumsfeld căn cứ Guam được nâng cấp với các không đoàn chiến đấu được triển khai, số thủy quân lục chiến trú phòng tăng cao ... Tại Úc, đã có những chuẩn bị cho một căn cứ yểm trợ và tiếp liệu khổng lồ ở Darwin. Ngoài ra, việc tái sử dụng căn cứ Subic, Clark ở Philippines được đặt ra. Thậm chí, các việc ấy cũng đã gây một đồn đoán thất thiệt về căn cứ Cam Ranh (!)

Gần đây, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Panetta lại tuyên bố Hoa Kỳ sẽ từng bước chuyển 60% Hải lực Hoa Kỳ về khu vực Thái Bình Dương. Rõ ràng Hoa Kỳ có quan tâm đặc biệt đến khu vực Châu Á Thái Bình Dương nói chung, và đặc biệt tại biển Đông nói riêng. Những điều trên đây chứng tỏ Hoa Kỳ có chuẩn bị.

Duy tất cả những điều ấy đều đặt dưới một lập trường, được minh định nhiều lần là "Kêu gọi giải quyết tranh chấp chủ quyền tuân theo luật quốc tế và không sử dụng lực lượng quân sự." Đối với Việt nam và các nước có liên quan trong các tranh chấp chủ quyền trong khu vực Biển Đông đặc biệt là tại Hoàng Sa và Trường Sa thì đây chính là điểm xác minh rằng Hoa Kỳ muốn nhấn mạnh: Họ chỉ quan tâm đến quyền tự do hải hành trên Biển Đông (và ..."quyền" dự phần”, ảnh hưởng, chi phối đến tiềm năng dầu khí dưới đáy biển nơi ấy, nếu có,) chứ không (hoặc chưa) chen vào việc tranh chấp chủ quyền về lãnh thổ.

Nói đơn giản, Hoa Kỳ muốn đưa ra quan điểm về quyền lợi rất sát, theo kiểu “Ai có chủ quyền ở đó cũng được, miễn chúng tôi và mọi người có quyền hải hành tự do trong khu vực, và ai có chủ quyền các mỏ dầu trong tương lai cũng xong, vì rồi chúng tôi cũng sẽ có phần!” (Có lẽ Hoa Kỳ dựa vào lợi thế kỹ thuật khai thác dầu tại biển sâu của Tây phương mà Trung Quốc chưa có khi tuyên bố sít sao theo kiểu này, và Trung Quốc cũng đang tìm cách hoá giải bằng cách tung tiền mua một công ty dầu khí Canada có sẵn công nghiệp và kỹ thuật khoan dầu biển sâu, để khỏi phải lệ thuộc, nhưng đây là việc khác, xin miễn đề cập thêm ở đây.)

Như thế, những triển khai quân sự của Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương đề cập trên đây chỉ là những chuẩn bị có tính chất phòng ngừa hơn là các chuẩn bị để can thiệp kịp thời vào các xung đột trong các cuộc tranh chấp chủ quyền. Và điều này giải thích vì sao Washington có vẻ chậm chạp trong những phản ứng trước các biến cố dồn dập gần đây tại Biển Đông như các vụ: Trung Quốc thành lập khu hành chính Tam Sa, thành lập bộ chỉ huy quân sự, triển khai lực lượng bố phòng tại các đảo, đồng thời tổ chức tuần tra thường xuyên vùng Biển Đông bằng chiến thuyền, có trang bị sẵn sàng tác chiến, thay vì sử dụng tàu Hải Giám như trước đây. Khi làm xong các động tác nêu trên để chính danh hóa chủ quyền, ngày 1/8/2012 Trung Quốc cho phép 23 ngàn tàu ghe đánh cá ồ ạt tràn vào biển Đông tổ chức khai thác hải sản – như một cuộc dàn quân tấn công thử nghiệm, bước đầu thực thi chủ quyền biển Đông một cách chính thức và "công chính". Phản đối của Hoa Kỳ được xem như chiếu lệ!

Khối ASEAN

Trước các diễn biến bất lợi ấy, các nước trong vùng Đông Nam Á phản ứng ra sao? Phân hóa. Do các nước trong vùng Đông Nam Á có những khác biệt trầm trọng trong quyền lợi, lập trường và chính sách, nên đã dẫn đến một tình trạng cực kỳ chao đảo và phân hoá.

Hội nghị ASEAN, nơi người ta hy vọng sẽ hiện thực được một nỗ lực đưa ra một đề cương giải quyết vấn đề biển Đông, đã bị phá vỡ vỡ hoàn toàn, dưới ảnh hưởng khuynh đảo của Trung Quốc. Ngoài những cổ vũ về nhân quyền dân chủ ngoài mặt, Hoa Kỳ đã không làm gì được hơn ngoài việc tái xác định lập trường của họ, một lần nữa, là không can thiệp về các tranh chấp lãnh thổ. Việt Nam và Philippines thất bại trong việc yêu cầu ghi vào bản thông cáo chung các địa danh của những nơi đang tranh chấp với Trung Quốc. ASEAN đã bế mạc phiên họp mà không có được một bản thông cáo chung, dù nội dung chỉ là màu mè lấy có.

Còn phản ứng riêng mỗi nước trong khu vực thì sao?

Ngoại trừ việc Ngoại trưởng Indonesia có những cố gắng để "hàn gắn đổ vỡ" của cuộc họp ASEAN, Indonesia, Malaysia và Brunei nói chung là thụ động với những phản ứng không đáng kể. Trừ Singapore và Philippines.

Singapore tích cực hợp tác với Hoa Kỳ, đã bước thêm một bước để gia tăng phòng ngự. Singapore thoả thuận để Hoa Kỳ gia tăng sự hiện diện quân sự trong vùng bằng cách đưa 6 khu trục hạm loại mới, có khả năng tác chiến cận bờ đến đồn trú tại Singapore. Việc này sẽ giúp củng cố an ninh eo biển Malacca, thủy lộ chính thông thương giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, là điểm sinh tử của kinh tế và quốc phòng của Singpore, và đáp ứng với lập trường bảo vệ an ninh và tự do hàng hải của Hoa Kỳ. (Việc này không may, lại đẩy lùi xa hơn nữa hy vọng của nhiều khuynh hướng trong và ngoài chính quyền tại Việt Nam vốn mong mỏi Hoa Kỳ tái sử dụng cảng Cam Ranh như một quân cảng chiến lược trong khu vực.)

Philippines cũng có những động thái tích cực. Philippines gia tăng thương thảo với Hoa Kỳ về việc tái sử dụng hai căn cứ chiến lược cũ là căn cứ Không Quân Clark và căn cứ Hải Quân tại Subic Bay. Đích thân Tổng thống Philippines Aquino III đã sang gặp Tổng thống Obama để đề đạt về vấn đề Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Ngoài ra, Philippines cũng đang nhận một số tàu tuần duyên từ Hoa Kỳ và Nhật, đồng thời với một số phi cơ các loại để gia tăng phòng thủ mặt biển. Tuy thế các hành động tăng cường quân sự này cũng chỉ hỗ trợ được ý chí chính trị không lùi bước trước sự xâm lược của Trung Quốc chứ trên thực chất, thực lực quân sự Philippines là bất tương xứng so với Trung Quốc.

Tại Nhật, các kênh phát ngôn tư nhân nhưng được xem là mang tiếng nói của chính quyền cũng đưa ra các đề nghị gia tăng khả năng quân sự để đối phó với vấn đề gây hấn của Trung Quốc tại quần đảo Điếu Ngư và Biển Đông. Nhật lâu nay vốn bị giới hạn bởi Hiến Pháp Nhật, chỉ cho phép tổ chức Lực Lượng Tự Vệ chỉ được hoạt động phòng thủ nội xứ, thì hiện có những chuẩn bị dư luận để cho phép Nhật được tổ chức quân sự qui mô, có khả năng đưa quân tham chiến tại nước ngoài. Mới đây tại Nhật cũng có đề nghị, qua phương thức khẩn cấp giải quyết không thông qua tu chính hiến pháp để có thể đưa chiến hạm vào Biển Đông trên danh nghĩa hộ tống thương thuyền, và bảo vệ quyền tự do hải hành trong khu vực. Các chuyển biến này hiện đang đối mặt với hai trở lực chính đó là sự nghi hoặc của các nước trong vùng từng có kinh nghiệm với Phát Xít Nhật trong thế chiến thứ hai, và các trở lực của việc tu chính hiến pháp.

Đài Loan có những phản ứng mâu thuẫn, bất nhất. Trước đây một giới chức quân sự cao cấp tuyên bố là trong trường hợp có xung đột quân sự thì Đài Loan sẽ đứng về phía Trung quốc rồi sau đó chính giới Đài Loan lại nói sẽ không hợp tác với Trung Quốc trong vấn đề biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Gần đây, Đài loan đã gia tăng củng cố và tăng cường quân sự tại các đảo đang chiếm đóng tại biển Đông và vừa mới tuyên bố sẽ thực tập tác xạ đạn thật sắp tới. Thái độ của Đài Loan trong giai đoạn này bị xem là không minh bạch và đã khiến cho có nhiều dư luận chống việc Hoa Kỳ tiếp tục bán các thiết bị quân sự và vũ khí cao cấp cho nước này.

Hoa Kỳ có những chuẩn bị như đã nêu trên, hướng về khu vực Biển Đông nhưng hầu hết lại nằm trong chiến lược toàn cầu lâu dài chứ chưa có các phản ứng rõ rệt về các hành động của Trung Quốc lúc gần đây.

Căn bản pháp lý duy nhất cho phép Hoa Kỳ can thiệp tức thời vào tình hình Biển Đông trong trường hợp xung đột vũ trang mà không phải thông qua quốc hội trước, là hiệp ước an ninh với Philippines.

Trên lý thuyết như vậy nhưng thực tế sẽ mang lại nhiều trở lực rất phức tạp, điển hình là các vấn đề chính:

- Hoa Kỳ đang ở giai đoạn cuối của hai cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan. Vì lợi ích lâu dài, Hoa Kỳ sẽ phải duy trì sự hiện diện quân sự và ảnh hưởng chính trị tại vùng Trung Đông, Cận Đông và Nam Á về lâu về dài.

- Tình thế chuyển biến tại các nước khác tại Trung Đông và Phi Châu như cuộc cách mạng tại Tunisia kéo theo Ai-cập, Lybia, Syria ... với những chuyển biến quân sự và chính trị hết sức rối ren.

- Iran với khả năng thủ đắc vũ khí nguyên tử. Việc Iran nhúng tay vào nội bộ các xứ Trung đông và Nam Á khác. Đối lại, là việc Do thái chuẩn bị đánh phủ đầu Iran.

- Kinh tế suy thoái toàn cầu và riêng tình hình kinh tế tại Hoa Kỳ không cho phép Hoa Kỳ chi tiêu quân sự rộng rãi, khoan nói đến việc dấn thân vào một xung đột quân sự qui mô khác trên thế giới như tại Biển Đông. Người dân Hoa Kỳ chưa thể sẵn lòng cho những phiêu lưu thuộc loại đó. Mà chính quyền dân chủ thì không thể bất chấp “lòng dân” được.

- Hơn nữa, Trung Quốc đã từ lâu áp dụng chiến lược tiệm tiến công. Những động thái có vẻ nhanh chóng và mãnh liệt gần đây của Trung Quốc thực chất là gặt hái các kết quả đã thực hiện trong vòng gần bốn chục năm qua. (Từ trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 đến thành lập Tam Sa 2012 là một chuỗi các hành vi chiếm đóng, củng cố, xây dựng các đảo, với sự đồng thuận hoặc im lặng hoặc lên tiếng chiếu lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN)!) Chiến lược này gây khó khăn cho Hoa Kỳ vì không thể huy động binh mã can thiệp chỉ vì các động thái xâm lấn từng bước một của Trung Quốc có vẻ "cục bộ và giới hạn". Nhưng như đã chứng minh, về lâu về dài lại gây ra một tác động bất lợi tầm chiến lược rất lớn.

Nội bấy nhiêu điểm liệt kê trên đây đủ cho thấy rằng trong trường hợp cần can thiệp vào Biển Đông, Hoa Kỳ sẽ phải có nhiều cân nhắc, và quyết định thế nào thì lại phải tùy theo thứ tự ưu tiên chiến lược ngay tại thời điểm quyết định là liệu có nên can thiệp, với mức độ nào, hay không làm gì hết.

Việt Nam đã và đang làm gì?

Từ sau khi ĐCSVN, mà Phạm văn Đồng, cố thủ tướng Việt Nam chỉ là người đưa tay ra, ký cái công hàm năm 1958 đến nay nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lúc trước và nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay đã đáp ứng với chiến lược xâm lấn kiểu tằm ăn dâu của Trung Quốc toàn bộ bằng những chuỗi động thái "đồng thuận" rất mông muội chỉ có thể giải thích như câu kết án của người dân đó là những hành vi "Bán Nước Để Cứu Đảng"!

Lời kết án nêu trên còn có được nhiều lý cứ củng cố hơn nếu nhìn thêm vào những gì đã và đang xẩy ra trên đất liền trên địa bàn đất nước. Thực vậy, từ sau cuộc hội nghị Thành Đô 1990 giữa Trung Quốc và ĐCSVN, thì ĐCSVN đã áp dụng rất nhiều các chính sách, chủ trương, và những biện pháp siêu ưu đãi cho sự thâm nhập ồ ạt của Trung Quốc vào Việt Nam.

Những nhân nhượng trắng trợn về chủ quyền đất đai trong lúc phân định ranh giới là một điển hình rõ rệt. Hà Nội quyết tâm ém nhẹm toàn bộ các thông tin về việc này. Đến khi cộng đồng truyền thông "lề dân" nêu lên và đặt vấn đề gay gắt thì chế độ Hà Nội lại đưa các giải thích mù mờ, theo kiểu qua loa, "cả vú lấp miệng em", rằng ta nhường đất chỗ này thì ta sẽ được chỗ khác, rằng họ là nước lớn, nhường ít đất vùng biên giới mà được hoà bình còn hơn ...tất cả chỉ tạo thêm lòng nghi ngờ trong mọi tầng lớp người dân mà thôi.

Hiện trạng về mặt nhân sự, nhiều triệu người Trung Quốc có thể định cư tại Việt Nam lâu dài không cần giấy tờ gì hết. Về kinh tế, thì các pháp nhân quốc tịch Trung Quốc từ các cá nhân cho đến doanh nghiệp đã góp phần rất tích cực để lũng đoạn kinh tế Việt Nam từ con cá lá rau đến việc xây dựng đa số các công trình chiến lược trọng điểm. Trước áp lực của Tây Phương phải cải tổ chính trị và nhân quyền, ĐCSVN rõ ràng đã đưa ra dối sách là lựa chọn liên kết với Trung Quốc để củng cố tham vọng cầm quyền muôn năm của họ.

Hoa Kỳ đối với Việt Nam hẳn nhiên là có ý định tạo lập một thế liên kết nhiều hơn, mạnh hơn về mặt ngoại giao và quân sự nhưng thái độ của ĐCSVN hiện chưa cho phép điều đó xẩy ra. Các quan chức chính quyền và nghị viện Hoa Kỳ liên tục gián tiếp đưa ra những lời nhắn nhủ và đề nghị những lộ đồ nhằm đẩy mạnh sự hợp tác xa hơn, nhưng thái độ đáp ứng của Hà Nội trong những lần như thế chỉ gây ra thêm nghi hoặc và do dự cho phía Hoa Kỳ.

Cụ thể, Khi Washington đề nghị một giải pháp đàm phán đa phương để giải quyết vấn đề Biển Đông thì Hà Nội lại công khai bày tỏ sự đồng thuận với Trung quốc về một giải pháp song phương (đây là điểm chủ yếu gây ra một sự đổ vỡ niềm tin hoàn toàn giữa Việt Nam và các nước trong khu vực Đông nam Á, và đối với Hoa Kỳ). Và các quan chức thuộc ĐCSVN và Nhà nước Việt Nam lại liên tiếp thực hiện những chuyến đi con thoi qua lại Trung Quốc để gia cố quan hệ của cái gọi là chủ trương hợp tác "bốn tốt, mười sáu chữ vàng" và họ kết luận các chuyến đi này bằng những lời tuyên bố rất sỉ nhục quốc thể.

Về hợp tác quân sự, khi Thượng nghị sĩ John McCain đề nghị Hà Nội cải thiện nhân quyền và tự do ngôn luận để tạo điều kiện cho chính phủ có thể giải tỏa lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam thì ngược lại Hà Nội lại mở một đợt gia tăng trấn áp những người bất đồng chính kiến. Hà Nội cố tình quên rằng việc giải tỏa lệnh cấm bán vũ khí sát thương không có nghĩa là Hoa Kỳ hy vọng thu lợi về việc bán vũ khí mà việc này sẽ mở đầu cho việc cứu xét quân viện, bao gồm nhiều hạng mục hợp tác như cung cấp vũ khí, huấn luyện tác chiến, tham gia tập trận, trao đổi tình báo, yểm trợ tác chiến khi có nhu cầu v.v...Là những điều mà Việt Nam hiện đang yếu kém hay thiếu thốn rất nhiều.

Điểm cao trong sự tính toán ti tiểu của Hà nội là gần đây nhất, thay vì có các nỗ lực tiến xa hơn trong hợp tác quân sự với Hoa Kỳ thì hành động kỳ nèo để Hoa Kỳ gia tăng tiền viện trợ cho việc tìm kiếm hài cốt binh sĩ Bắc Việt lại được ĐCSVN coi là một thành tích đáng biểu dương. Thêm vào đó việc Hoa Kỳ nhận làm sạch khu vực chứa thuốc khai quang, còn gọi là (Orange Agent) tại phi trường Đà Nẵng lại được ĐCSVN quảng bá như một thành công vượt bực sau "nhiều năm đấu tranh gian khổ", lại cũng khiến rộ lên hy vọng, rất hoang tưởng, là sau đó, Hoa Kỳ sẽ xét đến việc bồi thường!?

Và trong một đất nước mà việc mất nước vào tay giặc đang tiến đến từng giờ thì Bộ Quốc Phòng Việt Nam lại cử một phái đoàn quân sự cao cấp do tướng Nguyễn Chí Vịnh cầm đầu, theo sau chuyến đi Việt Nam của Bộ Trưởng Hoa Kỳ Panetta, đi Mỹ, để “học hỏi và trao đổi kinh nghiệm” trong việc tháo gỡ mìn của trận chiến đã kết thúc gần 40 năm trước!

Hà Nội cũng có những quyết định nhằm hiện đại hóa quân đội. Nhưng các việc này đối với các nhà nghiên cứu và khảo sát quân sự thì lại gây ấn tượng rằng ĐCSVN chỉ làm các việc này với mục đích lừa mị dân số trong nước vì các mục tiêu chính trị nội bộ hoặc tham nhũng hơn là thực tâm trang bị để phòng thủ và đối phó với các xung đột đang có khả năng bùng nổ. Các loại vũ khí Hà Nội mua về, những loại có tiêu chuẩn được xem là cao nhất để trang bị cho hai binh chủng Không quân và Hải quân cũng không có khả năng đối trị với các loại vũ khí mà TQ hiện đang có, trên tính năng chiến đấu lẫn số lượng. Chưa kể binh pháp cổ kim luôn nhấn mạnh một vũ khí lợi hại bậc nhất: Lòng dân. Nhưng món vũ khí này, dường như, ĐCSVN chẳng cần.

Nước nghèo cũng không phải là lý do vững chắc để biện minh cho việc mua về những trang bị thô sơ, lỗi thời, nếu tính đến hàng chục tỉ đô đã bị bộ máy tham ô chiếm đoạt tư túi và sự lãng phí khổng lồ hàng chục tỉ đô khác trên những công trình, dự án do các tập đoàn tư lợi giành nhau chia chác, khiến đục ruỗng công khố quốc gia.

Đối với các thành phần người dân yêu nước, thì Hà Nội sử dụng công an, quân đội để sách nhiễu, đánh đập, trấn áp liên tục các cuộc biểu tình chống Trung Quốc hay theo dõi vu cáo, gây hấn những người đối kháng bất đồng chính kiến là phản động, gán cho họ những tội danh như tuyên truyền chống phá nhà nước, âm mưu lật đổ chính quyền để giam cầm vô thời hạn hoặc và kêu những bản án nhiều năm tù qua các phiên toà kangaroo.

Những điều nêu trên, chứng tỏ rõ ràng là chế độ Hà Nội không có thực tâm đối phó với Trung Quốc hay cứu nước. Thực chất Hà Nội đã chứng minh chỉ muốn tồn tại trong địa vị độc nhất cai trị Việt nam bằng bàn tay sắt. Họ hợp tác với Trung Quốc vì muốn cứu Đảng. Theo các nhà nghiên cứu chiến lược và các nhà quan sát thì các động thái thương thảo, đàm phán với Hoa Kỳ của Hà Nội dường như có bản chất được sử dụng làm giá để "ngã giá" với Trung Quốc hơn là họ thực tâm muốn tìm giải pháp. Và khi đã tạo ra ấn tượng như vậy, thì mỗi cử mỗi động của Hà Nội lại chỉ tạo thêm nghi ngờ cho khối Tây phương và Hoa Kỳ chứ không đưa đến một tình thần hợp tác có hiệu quả.

Hiện nay các sự kiện thanh toán trong nội bộ ĐCSVN, đang gây xôn xao dư luận, chỉ là việc các phe đối đầu tiêu diệt lẫn nhau vì lợi ích riêng, hòng minh chứng rằng phe bên kia phản đảng, phản loạn, và để chứng minh họ trung thành với…Trung Quốc. Điều oái oăm là tất cả các hành động máu me tiểu khí này được cả hai bên thực hiện nhân danh lòng yêu nước, yêu dân và chống xâm lược Tàu!

Tạm kết

Có những sự thật hiển hiện ngay trước mắt mà ta chưa nhìn ra cho rõ. Trung Quốc  trên thực tế đã chiếm trọn Biển Đông là một sự thực loại đó. Có những nguy cơ sinh tử mà ta chưa biết cho được tỏ tường. Nguy cơ cả nước Việt Nam trong nay mai bị nội thuộc hoàn toàn vào nước Trung Quốc là một nguy cơ loại như vậy.

Những nét sơ phác trên đây, nhằm mục đích góp phần thêm vào các nỗ lực khác của các tầng lớp đồng bào yêu nước khác nhằm vạch rõ cho quốc dân được rõ về những sự thật trong hoạt cảnh sinh động trên Biển Đông hiện nay:

- Không, Trung Quốc chẳng phải chỉ đang đe doạ, lấn lướt, gây hấn. Trung Quốc đã chiếm trọn xong khu vực biển Đông, viết theo thì quá khứ.

- Trung Quốc đã xâm thực đất nước Việt nam đến tận gốc rễ, từ thượng tầng chính trị đến hạ tầng sinh hoạt thường nhật trên mọi mặt. Việc tóm thâu cả nước Việt nam hiện nay vào vòng nội thuộc Trung Quốc có thể thực hiện còn dễ dàng hơn là xâm lược Biển Đông. Xâm lược Biển Đông thì Trung Quốc phải đối phó với nhiều nước. Chiếm trọn đất nước Việt Nam thì Trung Quốc không cần phải đối phó với bất kỳ thế lực nào, vì ĐCSVN đã nằm trong tay Trung Quốc, viết theo thì hiện tại tiếp diễn.

- Và hãy nhìn chung quanh mình, để thấy cái nguy cơ thuộc hóa kia đang tiến đến rất nhanh từng ngày trước sự bất lực của người dân Việt Nam đang bị khóa tay, bịt miệng.

- Những hành động của Trung Quốc tại Biển Đông cũng như tại địa bàn Đông Đương là một phần rất quan trọng đối với Trung Quốc trong chiến lược bành trướng toàn cầu. Và họ đã liên lủy tiến hành kế sách xâm lược Biển Đông gần 7 chục năm qua. Cho nên muốn cho Trung Quốc lùi bước thì không phải đơn giản nhưng không phải là không thể. Sự việc còn nan giải ngàn lần khi Hoa Kỳ là nước duy nhất có khả năng can thiệp hữu hiệu lại bị các ưu tiên chính trị và kinh tế toàn cầu khác cản trở một sự quan tâm đúng mức và những hành động có hiệu quả thiết thực và lại đặc biệt khó hơn cho Việt Nam khi chính quyền do ĐCSVN nắm giữ không phải là đối tác tin cậy của Hoa Kỳ.

Tình hình như thế, đối với các tầng lớp người dân Việt Nam yêu nước là vô vọng chăng? Xin hẹn lại đề tài này trong một bài khác.○