Hiển thị các bài đăng có nhãn Dịch thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dịch thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 11 tháng 2, 2016

Sự biến hóa của Đế quốc



Le Monde
Phạm Trọng Tri dịch

Phóng viên Michel Lefebvre của Le Monde phỏng vấn hai sử gia Mĩ, Jane Burbank và Frederick Cooper, về sự chìm nổi của các thực thể chính trị có tên Đế quốc (Empire).

Michel Lefebvre (Le Monde): Các ông đã làm việc rất lâu về các đế quốc để viết cuốn Đế quốc, từ Trung Hoa cổ đại cho tới ngày nay, do Payot ấn hành năm 2011[i]. Các ông có thể cho biết một đế quốc thường được hình thành như thế nào?

Frederick Cooper (F.C.): Quan hệ giữa các thực thể chính trị ít khi đối xứng. Khi một nhóm xã hội này mạnh hơn một nhóm khác, điều này sẽ tạo ra một trạng thái bất ổn có thể gây ra một tình trạng bất bình đẳng gia tăng về chính trị. Sẽ có một vài cộng đồng có một số lợi thế so với các cộng đồng khác về: sự gần gũi các huyết mạch thương mại, một khả năng sinh sản nhiều hơn một chút hoặc một lãnh đạo quyến rũ. Họ bắt đầu tìm kiếm các đồng minh, thông qua hôn nhân chẳng hạn, và như thế họ khởi sự một công cuộc mở rộng quyền lực. Nếu, như hầu hết mọi nơi trên thế giới, đó là các xã hội đa nguyên, không chỉ chấp nhận một nền văn hóa, người ta sẽ bắt tay vào việc tạo ra các cấu trúc đế quốc. Đó là các cấu trúc quyền lực có tính bất đối xứng và bành trướng nhằm duy trì một sự phân biệt nào đó giữa các dân tộc đã bị nhập vào trong hệ thống.

Le Monde: Trong cuốn sách có một so sánh có tính phát hiện về Trung Hoa và La Mã. Các ông có thể cho biết tóm tắt các khác biệt giữa hai đế quốc này, một ở châu Á, một ở phương Tây?

Jane Burbank (J.B.): Có một thời điểm hết sức quan trọng khi La Mã quyết định trao quyền công dân cho các thần dân không phải người La Mã. Đó là sự kiện có tầm vóc lịch sử vĩ đại cho toàn bộ thế giới. Trung Hoa chưa bao giờ làm điều đó vì nó được xây dựng trên những nguyên lý khác hẳn. Chủ quyền là một thuộc tính của hoàng đế, kẻ cai trị thông qua sự trợ giúp của nhóm cận thần. Và trong lịch sử đế quốc của Trung Hoa không có ý tưởng đó, ý tưởng mà chúng ta cho là “phương Tây”, mở rộng quyền lực cho các công dân.

F.C.: Tuyên bố của Caracalla[ii] năm 212 đã mở rộng quyền công dân cho tất cả mọi cá nhân tự do thuộc sự quản lý của đế quốc, không bao gồm nô lệ và phụ nữ. Trước khi có tuyên bố này, vẫn có thể đạt được tư cách công dân nhưng khó khăn hơn. Trong các vùng bị chinh phục, để trở thành công dân La Mã, các thần dân nơi đó phải học tiếng La Tinh, hội nhập văn hóa La Mã và xây dựng quan hệ với giới chức La Mã.

Le Monde: Như thế, Trung Hoa đã đi theo một con đường rất khác, vậy điều gì là đặc biệt?

J.B.: Ở Trung Hoa, tham vọng đế quốc chưa bao giờ vắng bóng ngay cả lúc đất nước không do một dòng tộc nào khống chế trong nhiều thế kỉ. Hoàng đế là người đảm bảo hòa bình, định ra luật pháp, bảo đảm trật tự. Một nét đặc biệt khác ở Trung Hoa là thiết chế quan liêu-hành chính (bureaucratie) được hình thành trước rất lâu so với các nơi khác. Trở thành quan viên, nghĩa là thành người phục vụ hoàng đế, đã là một tham vọng của giới tinh hoa. Nhưng đối với hoàng đế, hệ thống hành chính là một phương tiện để kiểm soát quyền lực địa phương và để tạo ra giới quí tộc. Người Trung Hoa đã sáng chế ra sự kiểm soát bằng hệ thống quan liêu, bởi thế họ đã cai trị thành công các vùng đất rất trù phú trong thời gian dài.

Le Monde: La Mã, thông qua việc trao quyền công dân cho các dân tộc bị chinh phục, đã sáng tạo ra một ý niệm về chủ quyền[iii] có tính đặc trưng cho phương Tây; các đế quốc khác, từ Mông Cổ cho tới Abbasside[iv], đã thu nhập nhiều dân tộc có các phong tục và tôn giáo khác nhau nhưng lại bằng một cách khác…

J.B.: Chúng ta có thể nhớ đến một loạt các đế quốc “Á-Âu” được xây dựng dựa trên các văn hóa cai trị của các nhóm người du cư ở vùng hoang nguyên (Con đường Tơ lụa). Đối với người Mông Cổ hoặc người Thổ của châu Á, hoàng đế là hoàng đế của tất cả mọi người nhưng ông ta lại trao nhiều quyền cho giới tinh hoa địa phương và chấp nhận các tôn giáo khác nhau. Tính đa dạng tạo nên sự vĩ đại cho hoàng đế. Ngay cả khi đang thôn tính các đô thị ở trung Á, người Mông Cổ tránh đụng tới các giáo sỹ địa phương và giới thợ. Đối với các nhà chinh phục Mông Cổ, những người đó là những nhân vật hết sức hữu dụng. Còn khi đế quốc La Mã bị Cơ đốc hóa thì tôn giáo lại trở thành một bộ phận của văn hóa đế quốc, gây khó khăn cho sự tồn tại công khai của các tôn giáo khác. Nhưng dưới con mắt của người Mông Cổ, người Nga, người Ottoman, sự đa dạng về dân tộc trong đế quốc là điều tự nhiên và có lợi.

Le Monde: Đó cũng đúng với các đế quốc Omeyyade[v] và Abbasside?

F.C.: Các đế quốc Hồi giáo đã được sinh ra bên cạnh các đế quốc khác, đế quốc Byzantin và đế quốc Ba Tư. Đầu tiên, họ còn ở cách khá xa trung tâm quyền lực của các đại cường đó, điều này cho phép họ củng cố quyền lực trước khi đối đầu với những đế quốc cổ xưa hơn và hùng mạnh hơn họ trên phương diện quân sự. Thời kỳ lúc các caliphat[vi] tự hình thành và phát triển sau khi Mahomet qua đời, ban đầu họ chỉ là một nhóm tinh hoa rất giới hạn, hoàn toàn là người Ả Rập và tạo lập quanh một vài bộ tộc trong vùng. Nhưng họ đã đạt được sự bành trướng rất nhanh và không phải quá vất vả trong việc cải giáo các dân tộc bị chinh phục. Caliphat của Omeyyade đã sử dụng một số cấu trúc của Byzantin để cai trị một số vùng trong đế quốc của mình. Nhưng sau này, chính sách đó đã thay đổi do nhiều người tự cải sang Hồi giáo và các caliphat đã triển khai nhiều phương thức cai trị phức tạp hơn. Khi caliphat Omeyyade bị thay bằng caliphat của Abbasside vào năm 750 thì nảy sinh ra vấn đề làm thế nào để cai quản được một cấu trúc quá rộng và quá đa dạng. Đầu tiên, họ sử dụng người Ả Rập – những người thuộc dân tộc sáng lập đế quốc -, sau đó, với thời gian và nhiều thành công, họ làm theo chiều ngược lại. Ví dụ, để có các nô bộc trung thành, họ dùng những đàn ông trẻ tuổi không phải Ả Rập cũng không phải Hồi giáo nhưng phải trở thành những người lệ thuộc hoàn toàn, bị cải thành Hồi giáo và đào tạo thành các viên quản lý cho caliphat. Đó là một biến thể của giới quan lại Trung Hoa, nhưng khác biệt ở chỗ con người có nguồn cội riêng biệt trước đó trở thành lệ thuộc tuyệt đối vào caliphat.

Le Monde: Chúng ta vừa nói về các đế quốc Trung Hoa, La Mã và Hồi giáo, chúng đã biến đổi ra sao, có buộc phải biến mất hay tự tái sinh không?

J.B.: Để tiếp tục tồn tại, các đế quốc đều phải điều chỉnh các chính sách để đối phó với các thách thức mới. La Mã ban đầu là một nước cộng hòa, sau đó là principat[vii] và, với thời gian, đã trở thành một đế quốc Cơ đốc. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh, đó là chính sách của đế quốc thường rất linh hoạt, rất năng động. Một đế quốc có thể mất một phần lãnh thổ nhưng không để mất tất, đó là trường hợp đế quốc Anh. Vào cuối thế kỉ XVIII, nó phải nhả các thuộc địa tại Bắc Mĩ nhưng vẫn giữ được các sở hữu ở vùng Ca Ri Bê cho tới tận những năm 1960. Những nơi đó cho sản lợi nhiều hơn các vùng ở Bắc Mĩ. Hơn nữa, Đại Anh quốc vẫn còn cả bán đảo Ấn Độ.

Le Monde: Nếu nhìn lại thế kỉ XVII, những đại cường nằm ở đâu?

J.B.: Thay vì xếp các đế quốc thành tiền hiện đại hoặc hiện đại, chúng ta sẽ thấy thú vị hơn nếu tìm hiểu sự cạnh tranh giữa các đế quốc qua chiều thời gian và không gian. Vào thế kỉ XVI, đầu tiên ta có Đế quốc Ottoman[viii]. Kẻ thù chính của Charles Quint[ix] chính là Soliman Xa hoa[x]. Người Ottoman đã đoạt được một phần lớn Đế quốc La Mã và có một vị thế rất lớn trong nền kinh tế toàn cầu lúc đó. Họ là những người quyền thế ở khu vực Địa Trung Hải, ở một phần châu Âu và có nhiều lợi thế để hướng về phương Đông, đối mặt với Trung Hoa - một nơi giàu có của thế giới. Người Ottoman đã biết nhiều cách để cai quản các lãnh thổ của họ. Như chúng ta đã đề cập, họ biết biến nô lệ thành các viên quản lý cao cấp. Đồng thời họ còn tạo ra một hệ thống hậu duệ triều đại hết sức đặc biệt. Đó là những người được sinh ra chỉ từ hoàng đế với các bạn tình không giá thú để tránh được các vấn đề liên đới tới các quyền lợi hôn nhân trong giới quí tộc. Như vậy, vào thế kỉ XVI, chúng ta có các đế quốc hùng mạnh Ottoman, Habsbourg[xi] và Trung Hoa thuộc nhà Minh và sau đó là Thanh, hai triều đại đã thống nhất Trung Hoa.

Le Monde: Chúng ta đã đến từ bờ bên kia của Đại Tây Dương vào năm 1492. Các ông giải thích thế nào về việc Hoa Kì đã được sinh ra từ phong trào chống chế độ thực dân Anh rồi chính họ lại trở thành một đế quốc thực dân?

F.C.: Hoa Kì đã hiện ra từ một cuộc nổi loạn chống lại một đế quốc và cuộc cách mạng đó đã được hỗ trợ bởi một đế quốc kẻ thù của Anh, đó là Pháp. Ở châu Mĩ lúc đó còn một đế quốc thứ ba rất mạnh, đó là đế quốc Tây Ban Nha. Các nhà lập quốc Hoa Kì đã có ý thức rất sâu về các rủi ro phải sống trong một thế giới gồm nhiều đế quốc hùng mạnh; đó chính là lý do tại sao 13 thuộc địa đã quyết định không tạo thành 13 Nhà nước-dân tộc mà cùng liên kết tạo thành một liên hiệp để có thể sống sót trong một không gian đầy các đế quốc. Thomas Jefferson đã bảo vệ ý niệm “đế quốc tự do”. Nhưng ông chưa bao giờ nghĩ tới sự tự do đó cũng dành cho người nô lệ và người bản địa Indien. Đó là đế quốc tự do dành cho người Âu-Mĩ. Khái niệm đó có tính nền tảng đối với họ. Người Mĩ, người Âu, người da trắng tự cho họ quyền bành trướng lãnh thổ của họ, đó là cái chúng ta gọi là Định mệnh Khai hóa (Manifest Destiny)[xii].

Le Monde: Chúng ta đang sống trong một hệ thống chính trị còn rất mới, Nhà nước-dân tộc, trong khi các đế quốc đã có một lịch sử rất dài lâu. Một số đế quốc cổ xưa đã có những phương cách chúng ta có thể gọi là các sách lược đế quốc. Liệu các sách lược này có đe dọa các Nhà nước-dân tộc?

J.B.: Đã có những trường hợp khá rõ ràng, như nước Nga. Đó là một ví dụ tốt cho thấy một đế quốc có những biến chuyển gây mất hẳn một số nguyên tắc trong suốt thế kỉ XX. Đế quốc Nga, như nó tự xưng một cách chính thức, đã bị thay thế bằng Liên Xô. Người cộng sản đã tìm được một công thức để quản lý sự đa dạng về sắc tộc – thậm chí cả về dân tộc – bằng một cách thức khá hiệu quả trong suốt 74 năm tồn tại của chế độ của họ thông qua việc tạo ra một liên hiệp các dân tộc khác nhau. Chúng ta có thể thấy lại trong đế quốc đó nguyên tắc cai trị của người Mông Cổ hoặc Á-Âu – tư duy thu nhận các dân tộc khác nhau vào một thực thể chính trị minh thị thừa nhận tính chất tạp chủng. Ngày nay, Nga vẫn còn là một liên bang và vẫn thành công trong việc tạo dựng một thực thể chính trị với nhiều tôn giáo và nhiều dân tộc khác nhau. Liên bang Nga hiện đang cố giành lại các lãnh thổ đã có ở “Đế quốc Xô Viết” cũ.

F.C.: Vấn đề dân tộc đã được đặt ra vào thế kỉ XIX. Nhưng khái niệm này liệu đã có tính quyết định cho chính trị chưa? Thế giới vẫn còn là thế giới của các đế quốc trong suốt thế kỉ XIX và ít nhất kéo dài cho tới giữa thế kỉ XX. Khái niệm thế giới gồm các Nhà nước-dân tộc, trong đó mỗi thành viên là một thực thể pháp lí tương đương với mỗi thành viên khác, là một khái niệm khá mới. Vào đầu thế kỉ XX, toàn thế giới có chưa tới 10 đại cường, tất cả đều có cấu trúc phức hợp và đa dạng, tất cả đều cạnh tranh với nhau. Trong nội bộ nhiều đế quốc lớn còn có các kình địch về dân tộc tính. Trong Đế quốc Áo-Hung, các kình địch đó ít nhiều đã được quản lí. Trong Đế quốc Đức, thực thể được hình thành vào cuối thế kỉ XIX, còn có các vùng trực thuộc nói tiếng Đan Mạch, Ba Lan, Pháp, Yiddish[xiii] và gồm nhiều thuộc địa hải ngoại tại châu Phi, Đông Á, Thái Bình Dương. Đó là một cấu trúc rất phức tạp. Đầu thế kỉ XIX, Đế quốc Ottoman bị suy yếu nhiều so với trước mặc dù vẫn rất rộng lớn và nằm ở ngay vị trí chiến lược. Đế quốc Anh có nhiều thuộc địa, nhiều vùng bảo hộ và các dominion[xiv] được quản lí bằng phương cách rất khác, trong đó chính quyền Anh phải dùng giới tinh hoa địa phương.

Thế chiến đầu tiên là cuộc chiến giữa các đế quốc, không phải giữa các dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc đã lớn lên qua cuộc chiến này. Nhưng sự kết thúc chiến tranh lại làm gia tăng quyền lực cho các đế quốc chiến thắng và phá tan các đế quốc bại trận; sự tái định hình này đã gây ra bất ổn trong nội tại cựu Đế quốc Áo và cựu Đế quốc Ottoman. Chính trong bối cảnh đó đã nảy ra một đế quốc mới – Quốc xã (nazi). Với quan điểm phân biệt chủng tộc, nó bắt đầu gây chiến chống lại các đế quốc khác, là Pháp, Anh, Xô Viết và Mĩ - những thực thể, rốt cuộc, đã chiến thắng vì biết thu nhận các dân tộc thay vì tiêu diệt họ.

Le Monde: Một phương diện khác của đế quốc, đó là khái niệm chủ nghĩa đế quốc do John Hobson, nhà nghiên cứu Anh, đề xuất, sau đó được Lê Nin dùng lại. Chủ nghĩa đế quốc về kinh tế vận hành như thế nào?

F.C.: Khái niệm chủ nghĩa đế quốc thị trường – là nhan đề của một bài báo, The Imperialism of Free Trade (chủ nghĩa đế quốc của tự do thương mại) – đã được hai sử gia, John Gallagher và Ronald Robinson, sử dụng cách đây hơn nửa thế kỉ. Đối với họ, thời điểm quan trọng là đầu thế kỉ XX, khi Đại Anh quốc trở thành một siêu cường kinh tế sau khi Napoléon thất thế và Đế quốc Tây Ban Nha bị tan rã ở Nam Mĩ. Anh là nước duy nhất có năng lực hàng hải khống chế các đại dương. Ý tưởng của các chiến lược gia Anh là thực hiện một loại soft power (quyền lực mềm) bằng cách đầu tư ra khắp thế giới. Nhưng trong cấu trúc bất đối xứng này, chủ nghĩa đế quốc tự do thương mại có thể rất nhanh chóng biến thành một dạng thuộc địa hóa kinh điển. Trong một chừng mực, đó chính là những điều đã xảy ra vào cuối thế kỉ XIX. Đầu tiên là sự thôn tính và chia chác châu Phi, tiếp theo là Thế chiến thứ nhất. Chúng ta cần phải xem xét kĩ lưỡng hơn những thay đổi trong các tương quan giữa kinh tế và quyền lực do chủ nghĩa đế quốc kinh tế, xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX, đã tạo ra.

Sau Thế chiến hai, sau thất bại của Đức và Nhật, cùng với sự bất lực của Pháp và Liên hiệp Vương quốc Anh trong việc duy trì sức mạnh quân sự và kinh tế và, cuối cùng, với sự sụp đổ của các đế quốc thuộc địa, người ta đã có thể nghĩ đến một nguyên tắc dựa trên sự bình đẳng giữa các Nhà nước có chủ quyền được điều chỉnh thông qua các mối quan hệ thị trường xuyên quốc gia. Đó là một viễn tưởng không tương thích với hiện thực. Hiện thực là chúng ta đang sống trong một thế giới bất bình đẳng. Chúng ta đang sống trong một thế giới trong đó có những thực thể mạnh nhất vẫn khát khao mạnh hơn. Đó là những gì Hợp Chúng Quốc đang thực hiện bằng các phương tiện kinh tế, văn hóa và quân sự. Đó là những gì đang diễn ra từ Trung Hoa, quốc gia đã thành một quyền lực kinh tế và cũng là nước có năng lực đế quốc thông qua kinh nghiệm đế quốc của riêng nó trong hai nghìn năm với các kỹ năng hành chính. Hiện nay còn có mối hi vọng phục dựng một thực thể chính trị Hồi giáo, do người theo đạo Hồi ý thức được việc họ đã mất quá nhiều, nhất là sau khi Đế quốc Ottoman sụp đổ. Đó là nơi xuất phát của ý tưởng về một caliphat mới hoặc một Tân Ottoman bên bờ Đông Địa Trung Hải. Tại châu Âu, người ta cũng đang hi vọng về một sức mạnh mới. Không phải Tân Đế quốc La Mã, mà là một cấu trúc liên bang bao gồm sự hiện tồn của tất cả mọi Nhà nước thành viên của Liên hiệp châu Âu với một chính sách mới vượt hẳn trên các Nhà nước. Đó là một giải pháp phi đế quốc, phi quốc gia.

Le Monde: Các ông muốn nói rằng các đế quốc không bao giờ chết?

J.B.: Thật sự không có câu trả lời cho vấn đề cáo chung của đế quốc. Người ta có thể đã nhiều lần cho rằng đế quốc đã chết trong lịch sử Trung Hoa nhưng rồi ngày hôm nay nó đang quay lại một cách ấn tượng sau một thời kỳ suy yếu. Lịch sử quan tâm đến khoảng thời gian dài. Có thể là ý tưởng Nhà nước-dân tộc sẽ bị thay thế bằng những thực thể chính trị khác phức tạp hơn, lấy tên hoặc không lấy tên đế quốc. Chúng ta cũng nên nhớ rằng từ này trong nửa đầu thế kỉ XX mang một nghĩa tích cực. Chúng tôi đang sống ở tiểu Bang New York và cái tên gốc của nó là Nhà nước (tiểu bang) Đế quốc (Empire State), tên này có từ thế kỉ XVIII. Tòa nhà chọc trời Empire State Building được xây dựng vào khoảng năm 1931, là thời kỳ từ đế quốc vẫn còn dùng để biểu tỏ tầm quan trọng và sức mạnh của New York. Nhớ tiếc đế quốc không ích gì nhưng cần phải chú ý tới sự phức tạp trong những biến hóa của chính trị, những điều đã tạo nên hiện thực hôm nay. Sự phân chia quyền lực trên thế giới rất bất bình đẳng và sự bất bình đẳng trong nội tại mỗi quốc gia và giữa các quốc gia với nhau vẫn còn rất lớn.

Nguồn: Pour durer, les empires doivent transformer leur politique, Le Monde bản giấy, số đặc biệt, tháng 10-12/2015.

(Các chú thích là của người dịch)



[i] Bản đang nói là bản dịch tiếng Pháp. Nguyên bản Anh ngữ: Jane Burbank, Frederick Cooper, Empires in World History: Power and the Politics of Difference. Princeton: Princeton University Press, 2010. (Jane Burbank là Giáo sư về lịch sử Nga tại Đại học New York, các nghiên cứu mới nhất tập trung vào pháp luật và chủ quyền; Frederick Cooper là Giáo sư lịch sử tại Đại học New York, chuyên nghành sử châu Phi thế kỷ XX, quan tâm nhiều về các vấn đề lao động, thực dân luận, quá trình giải thực dân và tư cách công dân.)
[ii] Biệt danh nổi tiếng của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius Severus Antoninus Augustus (188 –217), trị vì trong thời gian 198-217.
[iii] Chủ quyền của nhân dân (populaire souveraineté), không chỉ vua-hoàng đế mới có uy lực, tiếng nói về quốc gia-đế quốc.
[iv] Đế quốc Hồi giáo của người Ả Rập do Abu al-Abbas Abd Allah sáng lập, tồn tại trong khoảng 750-1258 với trung tâm quyền lực nằm tại khu vực thuộc Iraq hiện nay.
[v] Đế quốc Hồi giáo của người Ả Rập, có trung tâm nằm tại Damas (thủ đô hiện nay của Syrie) từ năm 661-750.
[vi] Thủ lĩnh Hồi giáo được cho hoặc tự cho là người nối nghiệp giáo chủ Mahomet.
[vii] Chế độ chính trị của La Mã sau khi thể chế cộng hòa bị Julius Caesar xóa bỏ. Chế độ này tồn tại trong hai thế kỷ đầu tiên của Đế quốc La Mã, đặc trưng bằng sự cầm quyền của các hoàng tử, được gọi là người công dân thứ nhất, với các thiết chế cộng hòa được khôi phục về mặt hình thức.
[viii] Đế quốc do người Thổ sáng lập, kéo dài hơn 600 năm, từ thế kỷ XV cho tới năm 1922. Thời kỳ cực thịnh trong thế kỷ XV, XVI, Đế quốc Ottoman có lãnh thổ bao trải trên ba châu lục, Âu, Á, Phi.
[ix] (1500-1558), một trong những người có quyền lực nhất tại châu Âu trong thế kỷ XVI, cai trị Hà Lan, trị vì Đế quốc Tây Ban Nha và Đế quốc La Mã Thần thánh.
[x]  (c.1494-1566) Hoàng đế Thổ thứ mười của Đế quốc Ottoman, trị vì trong khoảng 1520-1566.
[xi] Một dòng họ hoàng gia tại châu Âu nổi tiếng vì có rất nhiều người làm hoàng đế hoặc vua ở nhiều vùng châu Âu suốt từ thế kỷ XV – XVIII.
[xii] Manifest Destiny là thuật ngữ chỉ quan điểm có tính ý thức hệ (ideology) xuất hiện tại Hoa Kì vào giữa thế kỷ XIX, cho rằng người dân Hoa Kì có sứ mệnh và bổn phận truyền bá dân chủ và văn minh sang khắp lục địa Bắc Mĩ bằng việc xâm lấn, mở rộng lãnh thổ thêm sang phía Tây.
[xiii] Là một ngôn ngữ của một tộc người Do thái sống ở vùng Trung và Đông Âu, có sự pha trộn giữa các phương ngữ Đức trung cổ và một số tiếng châu Âu, Do Thái cổ khác.
[xiv] Các quốc gia (vùng đất) tự trị nhưng vẫn thừa nhận quyền lực của Hoàng gia Anh.

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Các kịch bản cho thế giới năm 2030 (phần cuối)



Tạp chí La Revue*
Hà Vi, Quang Trung dịch

TRUNG ĐÔNG

Sáu báo động đỏ

Gérard Haddad

Tình trạng bất ổn chính trị ở Trung Đông đã quá nổi tiếng. Nhưng có một điều chắc chắn là dân số sẽ già đi chút ít do tỷ lệ sinh thấp. Phần báo cáo này sẽ là một bảng điều khiển với sáu đèn báo động:

1)  Phái Hồi giáo ôn hòa của tổ chức Anh Em Hồi Giáo liệu có thể giành được quyền lực không? Rõ ràng thì đấy là ý muốn của họ. Nhưng nếu tham nhũng và thất nghiệp vẫn tồn tại, dân chúng chắc sẽ mong muốn chế độ chuyên chế quay trở lại, và họ sẽ nhìn các Hồi giáo cực đoan như là một giải pháp thay thế chủ nghĩa tư bản và dân chủ của phương tây.

2)  Các chính phủ chuyển tiếp có thể ngăn được các cuộc xung đột xã hội không? Sự bất ổn kéo dài sẽ còn dữ dội tại Irak, Libye, Yemen và Syrie. Sự tan vỡ của Irak hay Syrie cũng có thể sinh ra một nước Kurdistan độc lập. Nếu những tình huống đó xảy ra, sẽ còn lại 3 nước không Ả Rập khác cùng kiểm soát tình hình, đó là Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Israel.

3)  Nền kinh tế của cả vùng có thể lấy lại ổn định và đối phó được với xu thế toàn cầu hóa không? Khu vực này không thu hút nhiều các nhà đầu tư, ngoại trừ ba lĩnh vực dầu lửa, du lịch, và bất động sản. Sự chậm trễ của vùng này trong lĩnh vực công nghệ cũng quá lớn, hơn thế lại ít gắn bó với mạng lưới thương mại và tài chính thế giới. Sự giảm nhẹ của dân số cũng sẽ đặt ra nhiều vấn đề lớn cho y tế cộng đồng.

4)  Khát khao hạt nhân của Iran. Kể cả khi Iran dừng lại trước khi sản xuất được vũ khí hạt nhân, Ả Rập Xê Út cũng sẽ cố đoạt được loại vũ khí này từ Pakistan. Thổ Nhĩ Kì, cũng rất có thể sẽ đi vào con đường này. Và trong một viễn cảnh hai nhánh Hồi giáo, Shia và Sunni, vẫn đố kị nhau thì toàn vùng sẽ ở trong một tình trạng bất ổn liên miên. Nhưng một tình huống khác cũng có thể xảy ra. Dân chúng Iran sẽ muốn một nền kinh tế phát đạt hơn là có được vũ khí hạt nhân, và vì vậy họ sẽ lật đổ chế độ hiện tại. Ta sẽ có thể thấy ló lên một Iran dân chủ và ủng hộ phương Tây.

5)  Khả năng dàn xếp giữa Israel và Palestine. Điều này sẽ thúc đẩy sự ổn định của toàn vùng Trung Đông, và bắt Iran phải thoái lui trong chiến lược và sức mạnh của Hamas rồi Hezbollah sẽ yếu đi. Biên giới giữa Israel và Palestine sẽ tương đương với đường “xanh” hiện nay. Những vấn đề nhạy cảm nhất (việc hồi hương của những người tị nạn, địa vị pháp lý của Jerusalem, vấn đề phi quân sự hóa) có thể sẽ chưa được giải quyết hoàn toàn. Israel hiện nay đang bị chia rẽ bởi hai hệ thống giá trị nền tảng, đó là một xã hội tự do và thế tục và một thế lực đang mạnh dần của những người có tư tưởng siêu chính thống (ultra-orthodoxes)[i] và những người (Do Thái) theo dòng Chúa cứu thế (messianistes). Nếu Israel vẫn là thế lực quân sự mạnh nhất toàn vùng thì họ vẫn sẽ bị đe dọa bởi nhiều thành phần vũ trang khác – dù là nhỏ, nhưng thường trực -, nếu không kể tới mối đe dọa hạt nhân từ Iran.

6)  Ả Rập Xê Út và các chế độ quân chủ của Vịnh Ba Tư có tránh được các làn sóng biểu tình đang thay đổi thế giới Ả Rập không? Nếu phong trào này lây sang họ, đó sẽ là sự bắt đầu của một giai đoạn bất ổn lớn về kinh tế và chính trị. Nhưng nếu các chế độ này vẫn trụ được với một vài cải cách, thì tình trạng hiện nay vẫn có thể tiếp diễn. Khi đó họ sẽ hỗ trợ các nước khác đang trong giai đoạn chuyển tiếp, như Ai Cập và Syrie.

NĂNG LƯỢNG

Sự «trở lại» của Hoa Kỳ

Với cầu thế giới tăng 50% từ nay đến 2030, năng lượng vẫn là một thách thức lớn. Một sự đảo lộn kỳ diệu sẽ đến từ khí đốt sản xuất từ đá phiến

Olivier Marbot

Một số nhà bình luận đã không ngần ngại tếu táo với thuật ngữ «l’Amérique saoudite» (Nước Mỹ Xê-út). Bản báo cáo của Cơ quan năng lượng quốc tế (AIE) được công bố vào tháng 11-2012 dự đoán rằng, nhờ vào khí đốt và dầu sản xuất từ đá phiến, Hoa Kỳ có thể sẽ đạt được sự độc lập về năng lượng, và sau đó,  khoảng năm 2020, sẽ trở thành nước sản xuất dầu thô hàng đầu thế giới, các chuyên gia cũng không ngớt phỏng đoán về hàng loạt những thay đổi sẽ xảy ra ở châu Mỹ và trên toàn cầu do một sự đảo ngược như thế về tương quan sức mạnh. Những dự báo của Hội đồng Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (NIC) cũng không nằm ngoài khuôn thước này, cho rằng sự xuất hiện của các nguồn năng lượng «phi truyền thống» trở thành một hiện tượng quan trọng trong 2 thập niên tới đây ở Hoa Kỳ cũng như trên thế giới. «Phải mất một thời gian chúng ta mới có thể hiểu được hết những ảnh hưởng về kinh tế, và thậm chí về chính trị, của cuộc cách mạng công nghệ này, tuy nhiên ngày nay chúng ta có thể đã cảm nhận được những điều đó», NIC nhấn mạnh như vậy, đồng thời nhắc lại nghiên cứu của AIE và đi đến cùng một kết luận: nguồn cung của thế giới sẽ tiếp tục đáp ứng được cầu, và Hoa Kỳ sẽ nhanh chóng sản xuất đủ năng lượng để đáp ứng đủ nhu cầu của chính họ và, sau đó, trở thành nước xuất khẩu lớn về khí đốt và dầu, thậm chí có thể trở thành nước đứng đầu thế giới trong lĩnh vực này. Đối với khí đốt, ở đây không còn là viễn cảnh nữa mà người ta đã biết chắc chắn Hoa Kỳ có cơ sở để tự cung đủ trong nhiều thập niên. Tiềm năng dầu lửa ở dạng «phi truyền thống» cũng chưa được đánh giá hết và còn việc khai thác những tài nguyên này cũng mới chỉ bắt đầu.

Ả-rập xê-út bị đe dọa

NIC thậm chí còn đưa ra một đánh giá: đến khoảng 2020, Hoa Kỳ có thể sản xuất từ 5 đến 15 triệu thùng mỗi ngày! Để dễ hình dung, chúng ta nên biết Ả-rập Xê-út  hiện chỉ sản suất được khoảng 10 triệu thùng mỗi ngày. Và nhất là dầu lửa từ đá phiến «Made in USA » có giá giao động trong khoảng 44 đến 68 đô-la/thùng! Rất thấp so với mức 100 đô la hiện nay, và còn thấp hơn nữa nếu so với giá 200 đô-la mà các chuyên gia đã thông báo cách đây ít lâu. «Theo bản báo cáo, những phân tích ban đầu cho rằng nguồn năng lượng giá rẻ này sẽ thúc đẩy nhiều công ty đến làm ăn hoặc chuyển cơ sở đến Hoa Kỳ, điều đó sẽ đẩy tổng sản phẩm quốc nội gộp (PIB) tăng từ 1,7 lên 2,2%, một sự tái cân bằng của cán cân thương mại và tạo ra 2,4  đến 3 triệu việc làm mới từ nay đến năm 2030. Hoa Kỳ sẽ mua ít dầu lửa hơn và thậm chí là hoàn toàn không nhập khẩu từ các nhà cung cấp chính hiện nay khiến những nhà xuất khẩu dầu lửa này sẽ phải đi tìm các thị trường khác. Điều này sẽ gây ra nguy cơ mất ổn định cho một vài nước mà toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào sản xuất dầu lửa». Cuối cùng, bản báo cáo đánh giá rằng nếu sản lượng của Hoa Kỳ đạt hoặc vượt 8 triệu thùng mỗi ngày, các nước thành viên Tổ chức xuất khẩu dầu lửa OPEP sẽ không còn khả năng ấn định giá dầu thô nữa, và, tất yếu, giá dầu lửa quốc tế sẽ sụp xuống.

Sự chuyển đổi không tốt cho năng lượng xanh

Dưới đây là một bảng phân bổ khí đốt từ đá phiến gần như tuyệt hảo, ít ra cũng là theo những tiêu chí của Hoa Kỳ. Sau khi đề cập vắn tắt tới châu Âu nơi mà nhiều quốc gia còn ngần ngại sử dụng các công nghệ thủy lực bẻ gãy (technologies de fracturation)[ii], bản báo cáo kết thúc bằng vấn đề môi trường và những rủi ro ô nhiễm cho nước và đất. Các chuyên gia của NIC thừa nhận «chỉ cần một tai nạn nghiêm trọng xảy ra tại điểm khoan với công nghệ thủy lực bẻ gãy có thể khiến dân chúng náo loạn là đủ phải dừng toàn bộ hoạt động khai thác trong toàn vùng ».

Trầm trọng hơn có thể là: Một khi hydrocarbures hóa thạch lại trở nên dồi dào và rẻ thì điều đó sẽ gây ra một trì kéo cho sự phát triển các nguồn năng lượng tái tạo! Các chính phủ, với sức ép bị trừng phạt tài chính nếu họ không kiểm soát được việc thải khí gây hiệu ứng nhà kính, liệu có còn thực sự muốn đổ tiền xây dựng các cơ sở sản xuất năng lượng từ mặt trời, từ gió hoặc thủy điện trong khi các cơ sở chạy bằng khí đốt vẫn có thể cung cấp được các sản phẩm tương tự nhưng với giá rẻ hơn? Cơ quan Năng lượng Quốc tế còn bi quan cho rằng trừ khi đạt được đồng thuận toàn cầu về việc giảm mạnh khí thải CO2, các nguồn năng lượng tái tạo có thể sẽ chỉ chiếm 4% tổng số năng lượng được tiêu thụ trên thế giới vào năm 2050. Năng lượng từ gió và mặt trời chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong 4% vốn đã rất khiêm tốn này.

Phân bổ trữ lượng khí đốt từ đá phiến trên toàn thế giới :

Theo dự tính của giới địa chất, trữ lượng khí đốt từ đá phiến được phân bổ khá công bình trên hành tinh.

Khu vực
Trữ lượng khí đốt từ đá phiến có thể khai thác (đơn vị : Tỷ m³)
BẮC MỸ
100 (Hoa Kỳ chiếm 24,0)
NAM MỸ
60 (Argentine: 21,9 ; Brésil: 6,3)
Châu Âu
15 (Pháp: 5,0 ; Ba Lan: 5,3)
Khu vực Liên Xô cũ
12
Khu vực Trung Á và Trung Quốc
100 (Trung Quốc: 36,0)
Châu Phi và Trung Đông
75 (Algérie: 6,5 ; Lybie : 8,2 ; Nam Phi : 13,7)
Khu vực châu Á-Thái Bình Dương
74 (Australie: 11,2)
Nguồn: World Energy Outlook, New Scientist, Schlumberg.




CÔNG NGHỆ

Thách thức của «Dữ Liệu Khủng»

Lưu trữ dữ liệu có thể trở thành một mặt trận của một cuộc chiến tranh đa cực về thông tin
Stesphan Marchand

«Tăng khí thải gây hiệu ứng nhà kính sẽ chậm lại sau 2010, chấm dứt vào năm 2025 và sau đó xu thế sẽ đảo chiều. Nhưng chỉ với một điều kiện là những tiến bộ công nghệ phải được tiếp tục». Những lời này là của George W. Bush, được phát biểu vào tháng 4 năm 2008, đã làm thất vọng giới sinh thái học Hoa Kỳ, những người đang trông chờ một sự ủng hộ cho việc siết chặt hơn về năng lượng. Phát ngôn đó cũng đủ cho thấy sự «mê mẩn công nghệ» (technomania) đang hoành hành khắp nước Mỹ. Với đức tin đó thì mọi vấn đề sẽ đều có một giải pháp bằng công nghệ. Bản báo cáo «Global Trends 2030» của Hội đồng Tình báo Trung ương cũng đã phản ánh rõ điều đó. Trong kịch bản lạc quan nhất của nó, tất cả các khuynh hướng kinh tế xã hội gây hại cho hành tinh chúng ta như việc dân số già đi, khí hậu nóng lên, bùng nổ các đô thị lớn, các cấu trúc nhà nước bị xóa mất, đều sẽ được bù đắp, giải quyết bằng sự xuất hiện các công nghệ mới có khả năng giảm thiểu những hệ quả xấu của các hiện tượng đó.

Chính đó là công nghệ thông tin, lĩnh vực sẽ chiếm một vai trò quan trọng nhất, nhất là khi thông tin với tất cả các dạng thức của chúng đang ngày càng trở thành trung tâm của mọi hoạt động có khả năng định hình đời sống xã hội, kinh tế và khoa học của hành tinh chúng ta. Công nghệ thông tin được ưa chuộng nhất hiện nay là «Dữ Liệu Khủng» (Big Data), đó là việc lưu trữ và xử lý những khối lượng thông tin lớn và liên tục gia tăng, đó có thể là thông tin về toàn bộ khách hàng của một doanh nghiệp, về toàn bộ những người nộp thuế của một quốc gia, về các nguồn cung trong hệ thống cấp nước sạch của một thành phố, hoặc về các kết quả của một thí nghiệm khoa học phức tạp.

Sau đây là 2 ví dụ. Trước tiên là về vật lý lý thuyết: các phụ tá của phòng thí nghiệm Máy gia tốc hạt lớn (LHC-Large Hadron Collider) ở vùng Cern tại Genève lưu trữ mỗi năm 15 pétaoctets (tương đương 15 triệu gigaoctets) dữ liệu, tương ứng với khoảng một chồng đĩa CD cao 20 km (ki-lô-mét). Còn đây thuộc lĩnh vực khí tượng: Độ chính xác trong dự báo là vô cùng quan trọng cho an toàn giao thông hàng hải, hay cho các kế hoạch gieo trồng nhà nông. Nhưng vấn đề này đang vấp phải khó khăn trong việc mô hình hóa các đám mây. Hy vọng với sự trợ giúp của các máy tính đang ngày càng mạnh hơn, một ngày nào đó, Dữ Liệu Khủng có thể giải quyết được vấn đề này.

Chi phí bảo dưỡng

Hội đồng Tình báo Trung ương (NIC) còn đi xa hơn nữa: Các giải pháp trong việc lưu trữ dữ liệu còn có thể «giúp các chính trị gia giải quyết những khó khăn về tăng trưởng kinh tế và điều hành quốc gia, giúp phát triển một mối quan hệ nhân bản hơn, trực giác hơn với máy tính, và giúp việc tiếp cận và sử dụng tri thức dễ dàng hơn», nhất là «cải thiện khả năng dự đoán về các mô hình kinh tế». Tuy nhiên, Global Trends 2030 không rơi vào tình trạng lý tưởng hóa. Bản báo cáo cũng nhận thấy khả năng lưu trữ không hạn chế các dữ liệu có thể cung cấp cho các chính phủ các công cụ đối phó với các nạn giả mạo đang gia tăng một cách khủng khiếp, và khả năng đó cũng tạo ra tình trạng quá tải về thông tin cho xã hội và dẫn đến các chi phí lớn trong việc duy trì, bảo dưỡng thông tin.○

*Nguồn : La Revue (bản giấy, tạp chí quan hệ quốc tế ra hàng tháng của Pháp) No 29, tháng Hai, 2013.





[i] Một phái thuộc Do Thái giáo (Judaism), với tên gọi khác là Haredi. Những người theo phái này được coi là phái bảo thủ nhất trong Do Thái giáo, họ cũng tự coi họ là thuần khiết Do Thái nhất với các quan điểm còn bảo thủ như phân biệt giáo dục riêng cho nam, nữ…(ND)

[ii] Công nghệ bơm chất lỏng dưới áp lực rất cao để phá vỡ, chia tách các lớp địa chất (ít thấm) trong lòng đất với độ sâu có thể lên tới 4 Km. Công nghệ này được khám phá vào khoảng giữa thế kỷ 20 với các kỹ thuật khoan thẳng đứng, sau đó được phát triển mạnh hơn với sự phát triển kỹ thuật khoan nằm ngang để thăm dò, khai thác các tài nguyên trước đây rất khó tiếp cận. (ND)