Hiển thị các bài đăng có nhãn Rule of Law. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Rule of Law. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012

Thượng tôn pháp luật và thực thi nhân quyền


Quang Trung

Bất kỳ xã hội nào được quản trị bằng nguyên tắc thượng tôn pháp luật (rule of law)[i] cũng đòi hỏi phải có sự thừa nhận tính chất tối cao của pháp luật và đòi hỏi một nhận thức rằng tất cả mọi cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật. Các nhận thức này không chỉ có nghĩa là bản thân pháp luật phải tuân thủ nguyên tắc tối cao nhằm bảo vệ nhân quyền mà còn có nghĩa rằng chính bản thân các cơ quan, tổ chức và nhân viên của nhà nước, chính phủ cũng phải bị ràng buộc trách nhiệm trước pháp luật. Chỉ như thế, nhân quyền mới có thể được bảo vệ một cách hợp pháp và các biện pháp sửa chữa các xâm hại nhân quyền mới có thể tồn tại và công hiệu.

Thiếu vắng thượng tôn pháp luật, người dân sẽ thường xuyên phải sống trong sự bấp bênh, sợ hãi do thiếu một an ninh tối thiểu cho cuộc sống bình thường.

Photo: Rex Features/The Guardian
Hệ thống đảm bảo công lý trong một xã hội chính là yếu tố quyết định cho sự hiện diện và hiệu lực của thượng tôn pháp luật. Hệ thống đó bao gồm ba bộ phận (thiết chế): cảnh sát (police), kiểm sát (công tố, prosecution) và các cơ chế, chức năng tư pháp (judiciary)[ii]. Sự vận hành của các chức năng đó sẽ ảnh hưởng tới sự đáp ứng của hệ thống bảo vệ công lý trước nhu cầu của xã hội. Nếu hệ thống đó có khả năng đáp ứng một cách thỏa đáng thì nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong xã hội đó đã được thực thi hiệu quả.

Có thể nói thượng tôn pháp luật và nhân quyền là hai mặt của một đồng xu. Nếu thượng tôn pháp luật được bảo đảm thì nhân quyền được bảo vệ. Ngược lại, khi nhân quyền thiếu hụt hay bị chà đạp thì tức là thượng tôn pháp luật đã bị lơ là hoặc bị gạt bỏ. Nói cách khác, nếu cổ xúy nhân quyền hay cam kết nhân quyền mà không thực thi tinh thần thượng tôn pháp luật thì đó chỉ là những cổ xúy suông hoặc chỉ là những cam kết dối trá, lừa bịp. Vì vậy, cuộc đấu tranh để giành lấy nhân quyền không thể tách rời cuộc đấu tranh xây dựng một xã hội tôn trọng và thực thi thượng tôn pháp luật. Tinh thần này cũng được thể hiện qua phát biểu của ông Tổng thư ký Liên hợp quốc, Kofi Annan, vào ngày 21/09/2004:

“Chúng ta phải bắt đầu từ một nguyên tắc nền tảng rằng không có ai ở trên pháp luật và không có ai không được pháp luật bảo vệ. Tất cả mọi quốc gia đã tuyên bố thực thi thượng tôn pháp luật ở trong nước thì buộc phải tôn trọng nguyên tắc này ở ngoài nước và mọi quốc gia đã khẳng định thực thi ở ngoài nước thì buộc phải tuân thủ ở trong nước. Đúng vậy, thượng tôn pháp luật phải bắt đầu ngay từ mỗi quốc gia.”[iii]

Vai trò của cảnh sát

Nhân quyền chỉ có thể được bảo vệ khi thượng tôn pháp luật được thực thi thường trực và phổ biến, do đó luôn có một liên hệ khăng khít giữa thái độ của lực lượng cảnh sát với tình trạng vi phạm nhân quyền trong một xã hội. Nếu cảnh sát từ chối ghi nhận, lập hồ sơ về các khiếu nại, phàn nàn về hối lộ, sách nhiễu, nếu cảnh sát lại tạo ra các cáo buộc vu khống cho người khác hoặc nếu cảnh sát lại đe dọa tính mạng, tự do của những người muốn đấu tranh vì công lý thì tức là cảnh sát không chỉ đang xâm hại các nhân quyền của công dân mà còn đang biến cả hệ thống bảo vệ công lý thành một hệ thống lừa dối, vi phạm nhân quyền.

Bổn phận hàng đầu của cảnh sát phải là ngăn chặn, điều tra tội ác và bảo vệ các quyền của công dân trong sự tuân thủ nghiêm ngặt đúng theo pháp luật. Việc không thực hiện các bổn phận này chính là một nguyên nhân lớn của các vi phạm nhân quyền và chính là một tội ác.

Bắt giữ, giam cầm trái phép và tra tấn người dân là những biểu hiện thường thấy của vi phạm nhân quyền trong giới cảnh sát. Ngoài ra, giới cảnh sát còn vi phạm nhân quyền bằng cách không tuân thủ qui trình pháp lý, cố ý làm sai lệch hồ sơ để che giấu tội phạm của chính bản thân hoặc của các thân hữu, kẻ mua chuộc. Biết và hiểu được các vi phạm nhân quyền thường có của giới cảnh sát cũng tức là để người dân hoặc chính giới cảnh sát có thể phòng ngừa, đấu tranh hữu hiệu chống lại các vi phạm nhân quyền của giới cảnh sát.

Một trong những bước đầu tiên và dễ dàng nhất để dân chúng đấu tranh với các vi phạm nhân quyền của giới cảnh sát là thu thập dữ liệu, lập hồ sơ một cách đầy đủ và hệ thống về các vụ việc lạm dụng, xâm phạm quyền công dân của giới cảnh sát và công khai các dữ liệu đó cho công luận biết. Cho dù việc lập dữ liệu, hồ sơ hệ thống, công khai không thể có hiệu quả ngay trong việc ngăn chặn, trừng phạt các xâm phạm nhân quyền của giới cảnh sát nhưng nó có tác dụng rất tốt trong việc cảnh báo các nhân viên cảnh sát và người thân của họ về những hành vi gây tội ác đối với con người đồng thời sẽ có tác dụng lâu dài trong việc huy động sự đoàn kết, ủng hộ của xã hội trong cuộc đấu tranh chung chống lại các vi phạm nhân quyền.

Vai trò của kiểm sát

Cơ quan kiểm sát là cơ quan có trách nhiệm đảm bảo mọi pháp luật phải được thực thi một cách đúng đắn và đầy đủ. Khi có bất cứ điều luật nào bị xâm phạm hoặc có bất kỳ tội ác nào xảy ra, kiểm sát phải đảm bảo qui trình điều tra, tìm hiểu được diễn ra theo đúng các trình tự do pháp luật qui định và đảm bảo cuối cùng công lý phải được thực hiện. Vai trò của cơ quan kiểm sát đặc biệt quan trọng khi pháp luật bị xâm hại bởi chính các nhân viên thực thi pháp luật, các viên chức chính phủ - những người được giao nhiệm vụ bảo vệ các quyền công dân.

Do đó, để cơ quan kiểm sát có thể đảm bảo cho pháp luật luôn được tuân thủ, cơ quan này buộc phải là một thiết chế độc lập, đặc biệt không được liên đới, chịu điều khiển hay bị ràng buộc với các tổ chức chính trị, cơ quan nhà nước hay các cơ quan tố tụng khác.

Các kiểm sát viên (công tố viên) bắt buộc phải độc lập - không chịu sự điều khiển hay ảnh hưởng của bất kỳ một đảng phái hay tổ chức xã hội nào - và phải không thiên vị (trung lập) – không được là thành viên của bất kỳ đảng phái hay nhóm, tổ chức xã hội nào và chỉ phán xét dựa theo pháp luật và lương tâm. Tính chất độc lập và không thiên vị (trung lập) của họ đặc biệt quan trọng và cần thiết trong những vụ việc xâm phạm pháp luật do lực lượng thực thi pháp luật hay các viên chức chính phủ gây ra. Khi kiểm sát viên (công tố viên) không còn giữ được tính chất độc lập và không thiên vị (trung lập), điều đó đồng nghĩa với việc họ sẽ là những người có khả năng rất lớn trong việc lạm dụng, phá hoại pháp luật.

Điều tra tội phạm và thu thập chứng cứ là những chức năng tối quan trọng để có thể truy tố được thủ phạm. Vì vậy, cơ quan kiểm sát không chỉ phải độc lập mà còn phải có trách nhiệm và đủ khả năng giám sát nghiêm ngặt quá trình điều tra một vụ việc – thường, trước tiên, do cảnh sát tiến hành.

Vì cảnh sát thường là lực lượng điều tra trước tiên, một chức năng quan trọng khác của kiểm sát là phải đảm bảo nếu có sự đe dọa chống lại nạn nhân và người làm chứng thì những kẻ đe dọa phải bị trừng phạt.

Chỉ cần nhìn vào mức độ độc lập và khả năng, trách nhiệm của một cơ quan kiểm sát có thể khẳng định được mức độ tôn trọng, tuân thủ nguyên tắc thượng tôn pháp luật của một thể chế chính trị.

Vai trò của tư pháp[iv]

Hệ thống tư pháp là nơi cuối cùng công dân có thể tìm đến để kêu cứu công lý, đặc biệt trong trường hợp các cơ quan hay nhân viên nhà nước vi phạm quyền của họ. Vì vậy, nếu một hệ thống tư pháp không quan tâm tới nhân quyền và/hoặc tham gia vào việc lạm dụng quyền lực thì đó là một trở ngại hết sức nghiêm trọng đối với việc thực thi nhân quyền trong một xã hội.

Do đó, hệ thống tư pháp cũng cần phải độc lập. Tính chất độc lập của hệ thống tư pháp bắt nguồn từ triết lý phân chia quyền lực (separation of powers): tam quyền phân lập giữa ba nhánh quyền lực cơ bản của một nhà nước (hành pháp, lập pháp và tư pháp). Ba quyền lực đó phải được tách rời theo nghĩa không được để cho một lực lượng duy nhất nào khống chế, chỉ đạo hay ảnh hưởng trong quá trình thiết lập quyền lực và thực thi quyền lực, cũng như không được để ba quyền lực đó câu kết với nhau trong việc ra quyết định. Nguyên tắc này cho phép tạo ra một hệ thống (cơ chế) có tính chất “kiểm soát và cân bằng” (checks and balances) thường trực và tự động để ngăn chặn, giảm thiểu mọi lạm dụng quyền lực rất có thể và rất thường xảy ra đối với các cá nhân và các cơ quan nắm quyền lực công.

Sự phân quyền và tính chất độc lập đó là nền tảng cơ bản tối thiểu để có một hệ thống tư pháp hữu hiệu trong việc duy trì và bảo vệ thượng tôn pháp luật và nhân quyền. Không có thượng tôn pháp luật sẽ không có thực thi nhân quyền.

Trong bất cứ xã hội hiện đại nào, vai trò của hệ thống tư pháp cũng là việc bảo vệ nhân quyền bằng cách đảm bảo cho mọi vụ việc tố tụng được diễn ra đúng qui trình pháp luật (due process) và đạt được các giải pháp sửa chữa các vi phạm pháp luật, các vi phạm nhân quyền một cách kịp thời và hiệu quả. Vai trò này chỉ có thể được thực hiện bằng sự vận hành hoàn toàn độc lập của hệ thống tư pháp, với các quyết định chỉ dựa trên hai trụ cột: các nguyên tắc pháp luật và sự phán xét duy lý không thiên vị.

Tính chất độc lập hệ trọng của tư pháp đòi hỏi hệ thống này phải có khả năng hoạt động thoát khỏi mọi ảnh hưởng của chính phủ hoặc các cơ quan khác thuộc hệ thống quyền lực công. Đòi hỏi này thường cần phải được minh định rõ ràng trong hiến pháp hoặc trong các văn bản pháp luật khác.

Đồng thời với tính chất độc lập của toàn hệ thống, các thẩm phán cũng phải được đảm bảo khả năng độc lập trong khi thực thi trách vụ. Hai tính chất độc lập này có mối quan hệ gắn chặt gần như đồng thuận với nhau. Nếu hệ thống tư pháp không độc lập thì rất ít cơ may để có các thẩm phán hoạt động độc lập.

Cả hai tính chất độc lập vừa kể nhằm tạo cho và đòi hỏi các thẩm phán một khả năng đảm bảo các thủ tục tư pháp luôn được thực thi một cách công bằng và quyền lợi của tất cả các bên liên quan luôn được xem xét và tôn trọng như nhau.

Cả hai tính chất độc lập nói trên cũng nhằm bảo đảm để hệ thống tư pháp luôn bị buộc trách nhiệm trước dân chúng. Điều này hết sức hệ trọng đối với các thành viên cao cấp của hệ thống tư pháp như chánh án tối cao hoặc những chánh án của các tòa án cao nhất của một vùng.

Cách thức bổ nhiệm hay kỷ luật các nhân viên của hệ thống tư pháp cũng có ảnh hưởng hết sức hệ trọng tới phẩm chất của hệ thống tư pháp. Việc bổ nhiệm, đề bạt, bãi nhiệm hay kỷ luật các thẩm phán chỉ được dựa trên ba (03) yếu tố: phẩm chất nghề nghiệp, uy tín và liêm chính cá nhân. Ngoài ra không được dựa vào bất cứ yếu tố, ảnh hưởng nào khác để đánh giá phẩm chất các thẩm phán, các nhân viên tư pháp. Những cơ sở đó cũng phải được áp dụng y hệt trong việc cung cấp phương tiện, điều kiện làm việc (vật chất, tài chính, tinh thần) và đảm bảo ổn định chức vụ cho các nhân viên tư pháp. Chỉ khi đó các nhân viên tư pháp, các thẩm phán mới có thể yên tâm thực thi trách vụ, phán xét công lý chỉ dựa vào pháp luật và lý trí cùng lương tâm không thiên vị.

Một khác biệt cơ bản trong các thể chế chính trị trên thế giới hiện nay không phải ở vấn đề có hay không có sự hiện diện của hệ thống tư pháp mà là ở mức độ và việc có hay không có tính chất độc lập của hệ thống hết sức hệ trọng này.

Cam kết

Một biểu ngữ do chính quyền treo tại Hà Nội 
ngày 09/12/2012
Vào ngày 10/12/1948 loài người lần đầu tiên đã có một tuyên bố chung về các quyền con người – nhân quyền – cơ bản. Đó là Tuyên ngôn toàn Thế giới về Nhân quyền của Liên hợp quốc.[v]

Ngày hôm nay, gần như tất cả các chính quyền trên thế giới đều đã phải tự cam kết chấp thuận và thực thi Tuyên ngôn toàn Thế giới về Nhân quyền. Không có một chính quyền nào phản đối việc thực thi nhân quyền.

Nhưng muốn có nhân quyền và muốn nhân quyền được thực thi, bảo vệ thì không thể từ chối xây dựng một nhà nước có nền tảng thượng tôn pháp luật. Muốn có thượng tôn pháp luật không thể từ chối việc chấp nhận một hệ thống tư pháp, kiểm sát và cảnh sát phải độc lập tối thiểu với tất cả các đảng chính trị, đặc biệt là đảng đang cầm quyền. Nếu những qui luật tất yếu này không được chấp nhận thì tất cả mọi cam kết rõ ràng nhất, hùng hồn nhất trong việc thực thi nhân quyền đều chỉ là những ngôn từ mỵ dân, lừa dối.○





[i] Rule of law: đây là một thuật ngữ trong lĩnh vực pháp lý và quản lý nhà nước theo cách dân chủ, có nguồn gốc từ phương Tây, đặc biệt trong các nước sử dụng Anh ngữ. Thuật ngữ này nhằm nói đến một hệ thống nhiều ý niệm với tinh thần cốt lõi là coi pháp luật là tối cao. Có nhiều cách dịch rule of law ra tiếng Việt. Trong bài viết này chúng tôi chọn cách dịch là “thượng tôn pháp luật”.

[ii] Thực ra trong đa phần các cấu trúc tư pháp (judiciary) của hệ thống nhà nước dân chủ đã bao gồm cả chức năng “công tố” (kiểm sát). Ở đây chúng tôi muốn tách rõ hai bộ phận “công tố” (kiểm sát) và “tư pháp” ra một cách riêng rẽ để cho dễ hiểu hơn đối với những độc giả chưa quen với các vấn đề tổ chức nhà nước hiện đại, nhất là cách phân chia này lại dễ so sánh với hệ thống hiện tồn ở Việt Nam.


[iii] “We must start from the principle that no one is above the law, and no one should be denied its protection. Every nation that proclaims the rule of law at home must respect it abroad; and every nation that insists on it abroad must enforce it at home. Yes, the rule of law starts at home.” - New York, 21 September 2004 - Secretary-General's address to the General Assembly.


[iv] Tư pháp: ở đây chủ yếu nói đến các tòa án và các thẩm phán cùng các nhân viên có chức năng tương đương.

[v] Quí vị cũng có thể xem toàn văn Tuyên ngôn dưới dạng pdf tại đây.

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

“Thượng Tôn Pháp Luật”


Nguyên tắc “Thượng tôn pháp luật” (Rule of law) thường được hiểu với nghĩa sơ khai là: “pháp luật có quyền lực cao nhất, trên tất cả mọi người và mọi người đều phải tuân thủ pháp luật”. Ý nghĩa này, về mặt lịch sử, xuất phát từ mơ ước của con người từ thời cổ đại mong được sống một cuộc đời không phụ thuộc vào sự thất thường, lắm khi tàn ác, của những kẻ có quyền. Aristotle của Hy lạp thế kỷ thứ IV trước CN đã viết “xã hội phải được quản lý bằng pháp luật và những người có quyền lực chỉ là người phục vụ pháp luật ”. Hàn Phi Tử của Trung quốc thế kỷ thứ III trước CN cũng mong muốn “pháp luật chứ không phải kẻ có quyền được điều khiển nhà nước.”

Tuy nhiên “Thượng tôn pháp luật” (với ý nghĩa sơ khai vừa nêu) không những chưa đủ để con người tránh được sự tàn ác, xảo trá của kẻ cầm quyền, mà, như lịch sử và thực tại cho thấy, còn trở thành vỏ bọc “hợp pháp” cho sự thống trị, đàn áp của những kẻ cầm quyền độc đoán. Adolf Hitler đã dùng luật để tiễu trừ người Do thái, các lãnh đạo cộng sản trong thế kỷ XX đã tạo ra luật để cướp đoạt tài sản, “ngăn sông cấm chợ” và nẫng đi những tự do vốn đã ít ỏi của dân chúng và ngay gần đây, Taliban đã dùng luật để phá tan hai pho tượng Phật độc nhất vô nhị của loài người!

“Thượng tôn pháp luật” với ý nghĩa đầy đủ và hiện đại phải được gắn kết một cách hữu cơ với sự tổ chức, vận hành của các cơ quan quyền lực của nhà nước, xã hội và có mục đích tối hậu nhằm bảo vệ quyền con người. Để “Thượng tôn pháp luật” đáp ứng được đúng ước mơ nguyên thủy của con người, các học giả hiện đại đã chỉ rõ “Thượng tôn pháp luật” phải được đặt trên bốn nền tảng sau đây:

1. Pháp luật phải có khả năng dễ dàng buộc các cơ quan nhà nước và mọi nhân viên của nó phải có trách nhiệm, phải trả giá thích đáng cho mọi hành vi sai phạm.

2. Pháp luật phải rõ ràng, công khai, ổn định và công bằng và phải nhằm mục đích bảo vệ các quyền cơ bản của con người.

3. Qui trình phê chuẩn pháp luật, thực thi pháp luật và bảo vệ pháp luật phải đảm bảo tính hiệu lực, công bằng và tính sẵn sàng chịu sự giám sát và chấp nhận nhu cầu thay đổi của dân chúng.

4. Quá trình phán xử (bảo vệ công lý) phải do những thẩm phán, luật sư có đạo đức, độc lập và đủ năng lực thực thi. Các viên chức tư pháp phải có đủ về số lượng, được đảm bảo thích đáng về nguồn lực, phương tiện khi thi hành công vụ và họ phải thể hiện được tính đa nguyên trong cấu trúc xã hội.

“Thượng tôn pháp luật” cũng như “Nhà nước pháp quyền” ngày nay đã trở thành những tiêu chuẩn, nền tảng của một xã hội văn minh. Những nguyên tắc này đã phổ quát và đúng đắn đến mức mọi chính quyền độc đoán đều không thể từ chối tán thành, bất chấp cả nguồn gốc phương Tây. Chỉ khác là những chính quyền độc đoán luôn trắng trợn giấu diếm và ngang ngược biện bạch cho sự thiếu vắng bốn nền tảng kể trên.

Cách nay hơn 250 năm Montesquieu đã có một nhận định bất hủ ”Kẻ cầm quyền độc đoán chả có pháp luật gì ngoài sự tùy tiện tai hại cho toàn xã hội.” (le despote n'a aucune règle, et ses caprices détruisent tous les autres). Điều đó cũng có nghĩa là nhân dân chẳng cần phải tôn trọng pháp luật, nếu pháp luật đó chỉ do những kẻ độc đoán quyền lực và thuộc hạ của chúng tạo ra.

Phạm Hồng Sơn
27/01/2010

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2009

Nên để việc đó cho chiếc cân !


Cách đây chưa đến 20 năm những người đi chợ thường khổ sở về chuyện cân đo hàng hóa khi mua bán. Hàng hóa khan hiếm làm tăng thói « buôn gian bán lận », « cửa quyền », « hống hách » của người bán hàng. Những gian thương thường sử dụng những chiếc cân sai lệch (không đúng tiêu chuẩn đo lường và dĩ nhiên phải có lợi cho người bán) hoặc dùng những thủ thuật làm lệch cân khi cân hàng hóa để kiếm lợi bất chính. Gian thương có những cách cân như thế cũng thường là những người giỏi nài gọi, chèo kéo khách và luôn kèm thói dọa nạt, cưỡng ép những khách đã chót sa chân. Gian thương không bao giờ để cho khách kiểm tra cân hay tự cân lấy. Nhiều khách hàng biết là bị lừa nhưng trước sự bặm trợn, ầm ĩ, phiền phức giữa chợ, cũng đành chậc lưỡi mua « cho xong chuyện » với ý nghĩ sẽ « cạch đến già ». Nhưng cũng có những khách hàng không chấp nhận bị lừa và quyết « chống trả ». Gặp phải những người « đáo để » như thế, những gian thương thường cũng biết « tìm đường rút lui », để giành công sức cho những « con gà » khác dễ « xơi » hơn. Nhưng cũng có trường hợp dẫn đến xô xát và nghe nói có cả án mạng chỉ vì chuyện không « thuận mua, vừa bán ». Tuy nhiên, trong bối cảnh « gạo châu củi quế » như thế, vẫn có những người (tất nhiên không thể nhiều) buôn bán lương thiện, quyết lấy chữ tín làm lãi. Những người thiện thương luôn dùng những chiếc cân đúng tiêu chuẩn (quốc gia hoặc quốc tế), sẵn lòng chiều khách trong việc cân đo hàng hóa và luôn vui vẻ để khách tùy ý quyết định. Những cửa hàng như thế thường lặng lẽ nhưng tấp nập, lời mời chào (nếu có) luôn nhã nhặn, ôn tồn và tuyệt không có lời chèo kéo hay to tiếng.

Việc cân đo hàng hóa (những vật có thể sờ mó được) còn tế nhị và nan giải đến thế thì việc cân đo công lý - phán xét đúng-sai, thật-giả, chắc chắn càng không đơn giản hơn. Chưa chắc chiếc cân công lý đã được đảm bảo đúng tiêu chuẩn. Chưa chắc những người cầm cán cân công lý đã là người tôn trọng sự thật. Nhất là trong hiện trạng công lý đã khan hiếm đến độ có cả dịch vụ « chạy án » thì việc tìm được công lý sẽ phải khó khăn gấp bội. Những nài gọi, chèo kéo, tán tụng, bặm trợn cho thứ « công lý » rởm luôn huyên náo, ồn ào trong xã hội cũng là điều chẳng lạ. Nhưng Công lý đâu cần nhiều đến ngôn từ. Biểu tượng nhân cách hóa của Công lý (theo triết lý phương Tây) là một nữ thần bị bịt mắt, nét mặt bình thản, miệng khép, với một bàn tay giơ lên chiếc cân có hai đĩa ngang bằng và bàn tay kia nắm đốc kiếm. Trong các định chế tư pháp ở Việt Nam như tòa án, bộ tư pháp hay hội luật gia cũng thấy thấp thoáng hình chiếc cân hai đĩa ngang bằng. Nhưng tịnh không thấy bất kỳ dấu hiệu hay biểu tượng nào cho âm thanh phán xét, sự hả hê hay hằn học của Công lý. Khi chiếc cân là chuẩn và người cầm cân là công tâm (bịt mắt) và nghiêm cẩn (tay nắm đốc kiếm) thì chỉ cần giơ chiếc cân cho « bách gia trăm họ » « mục sở thị » là đủ biết bên nào nặng bên nào nhẹ, bên nào đúng bên nào sai, đâu là sự thật đâu là giả dối. Còn khi cân đã không chuẩn và người cầm cân chỉ là đệ tử của phường danh lợi thì mọi lời tán dương kẻ cầm cân hay bài bác nạn nhân, có dụng công đến mấy, cũng chỉ làm cho sự gian trá thêm phần lố bịch. Huống hồ khi chưa ai được quyền phán quyết mà các màn phụ họa tán dương và bài bác đã ầm ĩ thì thật khôi hài.

Một nhà nước biết tôn trọng pháp luật không bao giờ hằn học khi bất lực với nghi can và càng không bao giờ tỏ vẻ hả hê khi có được lời thú tội. Nếu không chứng minh được nghi can có tội có nghĩa là đã có một công dân chắc chắn biết tuân thủ pháp luật. Còn nếu chứng minh được nghi can có tội có nghĩa là hệ thống pháp luật đã bị coi thường. Vậy tại sao phải hằn học khi pháp luật được tuân thủ và hả hê khi pháp luật bị coi thường? Và ngay lời thú tội của nghi can (nếu là sự thật) cũng không có giá trị quyết định cho việc kết tội . Một nhà nước biết yêu quí công lý chỉ nên chú tâm để đảm bảo có một cán cân công lý hợp chuẩn quốc tế (hệ thống pháp luật minh bạch, phù hợp với các công ước, thông lệ có tính phổ quát toàn cầu) và đảm bảo có những người cầm cán cân công lý thật công tâm (không bị ảnh hưởng, chi phối bởi quan điểm chính trị, phe nhóm lợi ích, tôn giáo hay sắc tộc) và nghiêm cẩn (nguyện bảo vệ hiến pháp và pháp luật đến cùng). Một nhà nước quang minh, chính đáng không cần những màn phô diễn, chèo kéo ầm ĩ chỉ để chứng tỏ công lý thuộc về mình. Và cả khi muốn cứu lại sự chính đáng đã mất cũng không nên làm như thế. Nên để việc đó cho chiếc cân công lý. Nhưng xin nhớ Công lý không bao giờ liên quan tới đổi chác hay mua bán.


Phạm Hồng Sơn
23/08/2009