Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa phương Đông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa phương Đông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

Vài phản biện về bài “Thoát Trung Luận”

Vài phản biện về bài “Thoát Trung Luận”

Cách đây ít hôm một bài viết có nhan đề “Thoát Trung Luận” của tác giả Giáp Văn Dương đã được đăng tải trên nhiều trang mạng phi nhà nước. Tác giả Giáp Văn Dương đã đề cập đến một vấn đề không chỉ có tính thời sự mà còn có tính chiến lược cho sự phát triển của đất nước Việt Nam: “Cần thoát khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc!” Như tác giả nhận định, quan điểm vừa nêu phần lớn mới chỉ được nhiều người thể hiện ở mức “trực giác”, chưa có tính “hệ thống” hay “mạch lạc”. Tiếp theo, tác giả trình bày cơ sở lý luận của mình cho quan điểm “Thoát Trung” đó, có thể tóm tắt làm hai ý chính: phần 1: tác giả chứng minh “Thoát Trung” đã là ý muốn của tổ tiên ta từ xa xưa; phần 2: tác giả mô tả sự phụ thuộc, rập khuôn tai hại hiện nay của Việt Nam vào Trung Quốc ở nhiều lĩnh vực và cuối cùng tác giả đưa ra lời kêu gọi “Thoát Trung hay là chết” như tổ tiên đã ra lệnh.

Tuy nhiên toàn bộ bài viết “Thoát Trung Luận” của Giáp Văn Dương vẫn cho thấy tác giả chủ yếu dựa vào sự nhiệt huyết dân tộc và cảm tình với tổ quốc để chứng minh cho một quan điểm hơn là dựa vào các cứ liệu hay tư duy hệ thống. Sau đây là vài điểm minh họa cho nhận định này:

- Giáp Văn Dương viết: “Khi còn nhỏ, tôi đã từng ngạc nhiên khi đọc bài hịch của vua Quang Trung khích lệ tướng sĩ trước khi ra trận: “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để răng đen…”. Tôi đã tự hỏi, vì sao nhà Vua không chọn những biểu tượng lớn lao hơn mà lại chọn những điều nhỏ nhặt như vậy để động viên quân sĩ ? Nhưng càng ngày tôi càng thấm thía : Đó là lòng kiên định của tổ tiên nhằm thoát khỏi vòng kiềm tỏa của nền văn hóa Trung Hoa, ngay từ những việc nhỏ nhất.”

*Việc chỉ căn cứ vào lời nói của một ông vua trong cả một lịch sử hàng ngàn năm để kết luận đó là “lòng kiên định của tổ tiên” thì đó là một suy diễn quá xa và yếu ớt trong nghiên cứu lịch sử. Hơn nữa một “nền văn hóa” không chỉ thể hiện hay kết tụ ở kiểu tóc hay màu răng. Dĩ nhiên chữ “tóc” và “răng” trong lời hiệu triệu của Quang Trung có thể chỉ có tính biểu tượng nhưng nếu ta quá câu nệ vào đó thì sẽ dễ làm cho chúng ta quên mất cái hệ lụy quan trọng nhất của một sự ảnh hưởng của văn hóa không phải là những thứ hữu hình mà là những giá trị vô hình – cách tư duy.

- Giáp Văn Dương viết tiếp phần trên: “Ý thức vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này là thường trực. Tuy nhiều lúc bị chao đảo bởi sự tấn công mạnh mẽ đến từ phương Bắc, nhưng mỗi khi cần đến thì ý thức vùng thoát này lại bùng lên dữ dội.”

*Ở đây tác giả lại tiếp tục suy diễn quá xa theo kiểu khẳng định đồng nhất ý muốn của các triều đại phong kiến Việt Nam. Nhìn vào trường lịch sử của Việt Nam thì đúng ra là mọi triều đại phong kiến Việt Nam chỉ thường trực ý thức cảnh giác với ý đồ xâm lược từ phương Bắc. Và thường mỗi khi bị phương Bắc xâm lược thì các triều đại phong kiến Việt Nam có phản ứng chống lại một bộ phận văn hóa phương Bắc như một biện pháp tuyên truyền để cổ xúy tinh thần chống ngoại xâm hơn là ý thức thoát khỏi ảnh hưởng văn hóa của Trung Quốc một cách cơ bản. Một bằng cớ rõ ràng là Văn Miếu (nơi thờ Khổng Tử - một biểu tượng và là một trong những tác giả lớn của nền văn hóa Trung Quốc) vẫn luôn được bảo vệ và tôn tạo từ đời Lý Thánh Tông trở về sau.

- Tiếp theo Giáp Văn Dương đưa ra thêm một số cứ liệu minh chứng cho tinh thần “Thoát Trung” của tổ tiên chúng ta như vấn đề chữ viết, tên nước:

+ “Nỗ lực xây dựng chữ viết riêng cho dân tộc như chữ Nôm của cha ông.” (Giáp Văn Dương)

*Thực ra chữ Nôm cũng chỉ là một phó bản kém của chữ Hán. Vấn đề “Thoát Trung” điều quan trọng không phải là từ bỏ một cách manh mún những sản phẩm hay công cụ văn hóa của Trung Quốc mà phải là nhận ra những điểm yếu, lạc hậu, cản trở của nền văn hóa đó đối với sự phát triển và phải xây hoặc tìm lấy được những giá trị văn hóa tiến bộ hơn.

+ “, và gần đây nhất là việc toàn dân đồng loạt chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, là minh chứng rõ ràng cho sự vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này.” (Giáp Văn Dương)

*Thực tế đây chỉ là một phản ứng thụ động của sự biến đổi do những người ở phương Tây đem lại và nếu là ý thức chủ động thoát khỏi phương Bắc thì cũng chỉ của một bộ phận nhỏ của sĩ phu đương thời (đã có tiếp cận với văn hóa phương Tây) mà thôi.

+ “Riêng với việc chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, có thể nói, đây là một cuộc thoát Trung ngoạn mục.” (Giáp Văn Dương)

*Chữ quốc ngữ chỉ là một yếu tố, một điều kiện thuận lợi cho việc rời xa văn hóa Trung Quốc mà thôi. Thực tế đã cho thấy hai Việt Nam (Bắc và Nam từ 1954-1975) cùng sử dụng chữ quốc ngữ nhưng miền Bắc lại gần như hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc.

+ “Thành quả của nó thật đáng nể: Số người biết đọc biết viết tăng lên gấp bội, số lượng văn bản sử dụng chữ quốc ngữ chỉ trong một thời gian ngắn đã tăng lên gấp nhiều lần so với số văn bản chữ Nho của toàn bộ lịch sử nước ta trước đó.” (Giáp Văn Dương)

*Điều này lẽ ra phải ghi nhận cho tính chất dễ sử dụng, dễ truyền bá của chữ quốc ngữ hơn là ý thức thoát Trung của người Việt.

+ “Cũng chính nhờ chữ quốc ngữ mà về mặt hình thức, ngôn ngữ của chúng ta đã thoát khỏi vòng kiềm tỏa của tiếng Hán. Tỷ như đến giờ phút này, nước Việt ta vẫn dùng chữ Nho để viết và giao tiếp với thế giới, thì đối với họ, ta có khác nào một quận huyện của Trung Quốc ? Ta sẽ gặp khó trong việc thuyết phục họ rằng, ta là một quốc gia độc lập, có ngôn ngữ và văn hóa riêng.” (Giáp Văn Dương)

*Nhật bản và Hàn quốc, thậm chí Đài Loan cũng vẫn sử dụng chữ viết tương tự hay đúng như của Trung Quốc nhưng đâu có trở thành quận huyện của Trung Quốc và họ cũng đâu có gặp khó khăn trong việc xác định sự độc lập với Trung Quốc vì vấn đề chữ viết hay văn hóa có nhiều điểm giống Trung Quốc.

+ “Tên gọi của nước ta cũng không phải là một sự ngẫu nhiên. Đằng sau mỗi cái tên đều là một lời nhắn nhủ hoặc một mong đợi sâu thẳm. Ông cha ta đã chọn hai chữ Việt Nam để đặt làm tên nước.” (Giáp Văn Dương)

*Tác giả đã quên mất cứ liệu lịch sử rằng thoạt kỳ thủy vua Gia Long (tức Nguyễn Ánh) đề nghị với vua triều Thanh của Trung Quốc cho nước ta lấy tên là Nam Việt. Nhưng vua Trung Quốc lúc đó vì sợ chữ Nam Việt gợi lại lịch sử trước đây nước Nam Việt (thời Triệu Đà) gồm cả đất Lưỡng Quảng nên chỉ chuẩn thuận cho tên nước ta là Việt Nam.

+ “Việt Nam có nghĩa là tiến về phương Nam. Điều này có nghĩa là gì? Chỉ có thể cắt nghĩa : Tiến về phương Nam để thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Đó là di lệnh của tổ tiên cho các thế hệ con cháu người Việt Nam mình.” (Giáp Văn Dương)

*Đây lại là một suy diễn quá xa và liều lĩnh.

- Giáp Văn Dương nhận định: “ Nhưng điều không may cho chúng ta là nền văn hóa Trung Hoa có sức ảnh hưởng quá lớn. Nó như một đại nam châm hút các dân tộc xung quanh về phía mình. Nên dù luôn có ý thức vùng thoát khỏi ảnh hưởng của người Trung Quốc, dù đã được cha ông di lệnh kỹ càng, thì lịch sử của Việt Nam luôn là sự giằng xé giữa hai luồng vận động: Vùng thoát khỏi Trung Quốc và chầu về Trung Quốc.”

*Tác giả tiếp tục dường như quên mất Nhật Bản, Hàn Quốc, kể cả Bắc Triều Tiên và Đài Loan cũng là các “dân tộc xung quanh” nhưng gần như tất cả đã không chỉ “Thoát Trung” mà còn vượt hơn cả Trung. Tác giả có lẽ cũng đã quên mất một nửa nước Việt dưới vĩ tuyến 17 từ 1954-1975 đã hoàn toàn thoát khỏi Trung Quốc. Và tác giả dường như cố tình quên yếu tố Đảng Cộng sản Việt Nam/Hồ Chí Minh trong vấn đề phụ thuộc Trung Quốc của Bắc Việt Nam từ 1950-1975 và của toàn Việt Nam gần như toàn bộ giai đoạn tiếp theo từ 1975 đến nay.

- Trong phần 2, Giáp Văn Dương chủ yếu liệt kê và mô tả thực trạng đất nước Việt Nam hiện nay bị thâm nhập, lệ thuộc vào Trung Quốc ở hầu khắp các lĩnh vực (văn hóa, kinh tế, chính trị,…), cùng với thể hiện một cảm xúc chua xót, đau buồn là chính, hơn là phân tích để vạch ra nguyên nhân sâu xa và cơ bản của thực trạng đó. Ví dụ, tác giả viết: “Xin hỏi : Một dân tộc được định hình chính bởi cái gì ? Có phải là bởi đất đai, tài nguyên của dân tộc đó hay không ? Chắc hẳn là không. Người ta phân biệt dân tộc này với dân tộc khác bởi chính văn hóa của nó. Nay văn hóa của ta đang bị áp đảo mà dân ta lại vui vẻ cổ vũ chấp thuận, thì khác nào tay ta đã yếu, mắt ta đã chậm mà ta lại tự mua dây về bịt mắt trói tay mình ?”

*Có lẽ tác giả không nhận thấy hoặc không chỉ ra một nguyên nhân chính của thực trạng này chính là chính sách độc quyền về giáo dục, truyền thông của nhà nước hiện nay.

Hay Giáp Văn Dương nhận định chính xác rằng: “những thói hư tật xấu này đang tác oai tác quái làm suy đồi văn hóa và đạo đức của ta quá thể. Bệnh hình thức hư danh, tật khoe khoang thành tích, thói hành dân, nịnh trên lừa dưới, tệ chạy chức chạy quyền… đã thành phổ biến, nên không còn cách nào khác là phải dứt bỏ để học những giá trị tiến bộ của phương Tây như dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, thực học thực nghiệp… thì mới có thể tiến kịp người.”

*Nhưng lẽ ra tác giả cần phải đề cập thêm một vấn nạn nguy hiểm là đã có nhiều người đang cố gắng truyền bá, cổ xúy những tư tưởng, giá trị tiến bộ của phương Tây nhưng họ lại có nguy cơ rất cao bị nhà nước hiện nay kết tội là “thù địch”, “phản động”.

Tóm lại, bài viết “Thoát Trung Luận” của Giáp Văn Dương đã nêu ra một vấn đề lớn, quan trọng và thiết thực trong tình hình hiện nay nhưng lập luận của tác giả vẫn chưa thoát khỏi sự chủ quan thường có của những người có tinh thần yêu nước nồng nàn nhưng chủ yếu chỉ dựa trên tinh thần tự tôn dân tộc và chỉ đề cập vấn đề với một tình trạng nửa vời. Cổ xúy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc khi đất nước đang bị đe dọa xâm lăng là điều quí giá và cần thiết nhưng việc cổ xúy không dựa trên một tinh thần khách quan, duy lý, triệt để, thì sự cổ xúy đó vô hình chung lại duy trì hay tiếp tục tạo ra những lối mòn có hại cho một nền văn hóa vốn đã và đang bị ghìm giữ trong lối suy nghĩ cảm tính, thiên vị, cải lương – những đặc tính rất có lợi cho những kẻ cầm quyền mỵ dân, độc tài. Thiết nghĩ, nếu nhìn ở phạm vi ngay trước mắt thì Việt Nam cần phải xa rời Trung Quốc để hướng đến và thắt chặt với phương Tây, nhưng nếu nhìn ở phạm vi dài hạn thì vấn đề không phải là “Thoát Trung” hay không “Thoát Trung” mà vấn đề là đất nước phải có sự sáng suốt, tỉnh táo để nhận ra được cần phải du nhập cái gì, tránh cái gì hay cần phải đồng minh với quốc gia nào, giữ khoảng cách với quốc gia nào trong mọi quan hệ, các mối quan hệ không bao giờ thuần nhất và bất biến, với các quốc gia, dân tộc khác. Mà để có sự sáng suốt, tỉnh táo đó thì dân chúng và đặc biệt là giới trí thức phải có suy nghĩ độc lập, khoa học và có khả năng ảnh hưởng, tham gia vào các quyết định liên quan đến mọi vấn đề của quốc gia, xã hội. Khi đó mọi vấn đề “thoát” hay “nhập” với bất cứ cái gì không còn là vấn đề khó khăn, mông lung hay bế tắc nữa. Dĩ nhiên đây là vấn đề không hề nhỏ hay dễ dàng để một ý kiến có thể đạt được tính đầy đủ và thuyết phục cho mọi góc cạnh. Vì vậy những góp ý trên đây với tác giả Giáp Văn Dương cũng chỉ là một nỗ lực nhỏ nhoi với hy vọng cùng góp thêm vài suy nghĩ nhỏ cho một vấn đề lớn mà tác giả Giáp Văn Dương đã là người nêu rõ ra trong bối cảnh rối bời và nhiều phần rất lâm nguy của đất nước hiện nay.

Phạm Hồng Sơn
17/8/2011

Phụ lục:

Thoát Trung Luận
Giáp Văn Dương

Thời gian gần đây, khi thảo luận về những nguy cơ đối với nước ta trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, về lựa chọn mô hình phát triển cho Việt Nam, về tình hình tranh chấp Biển Đông…, một số người thuộc giới trí thức trong và ngoài nước, dù chưa chính thức, cũng đã ít nhiều đi đến một nhận định chung: Cần thoát khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc!
Tuy nhiên, nhận định này chưa bao giờ được viết ra một cách mạch lạc, có hệ thống, và dường như chỉ mới dừng ở mức trực giác. Vì thế, một bài luận nhằm phân tích rõ ràng về nhận định quan trọng này là cần thiết.
*
* *
Tư tưởng thoát khỏi Trung Quốc thực ra không hề mới. Lịch sử nước ta có thể được diễn giải tương đối đầy đủ dưới góc nhìn thoát Trung. Phần lớn các cuộc khởi nghĩa, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta đều mang trong mình một thông điệp nóng hổi: Thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc!

Sự kiện dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa và giành lại được độc lập sau gần một nghìn năm Bắc thuộc là một sự kiện hy hữu trên thế giới. Đó là kết quả của một quá trình thoát Trung bền bỉ kiên trì. Sau khi giành được độc lập, quá trình này được tiếp nối không chỉ ở các cuộc kháng chiến vệ quốc, mà còn ở các nỗ lực giữ gìn ngôn ngữ, văn hóa ở các triều đại sau này.

Khi còn nhỏ, tôi đã từng ngạc nhiên khi đọc bài hịch của vua Quang Trung khích lệ tướng sĩ trước khi ra trận: “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để răng đen…”. Tôi đã tự hỏi, vì sao nhà Vua không chọn những biểu tượng lớn lao hơn mà lại chọn những điều nhỏ nhặt như vậy để động viên quân sĩ? Nhưng càng ngày tôi càng thấm thía: Đó là lòng kiên định của tổ tiên nhằm thoát khỏi vòng kiềm tỏa của nền văn hóa Trung Hoa, ngay từ những việc nhỏ nhất.

Ý thức vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này là thường trực. Tuy nhiều lúc bị chao đảo bởi sự tấn công mạnh mẽ đến từ phương Bắc, nhưng mỗi khi cần đến thì ý thức vùng thoát này lại bùng lên dữ dội. Nỗ lực xây dựng chữ viết riêng cho dân tộc như chữ Nôm của cha ông, và gần đây nhất là việc toàn dân đồng loạt chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, là minh chứng rõ ràng cho sự vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này.

Riêng với việc chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, có thể nói, đây là một cuộc thoát Trung ngoạn mục. Thành quả của nó thật đáng nể: Số người biết đọc biết viết tăng lên gấp bội, số lượng văn bản sử dụng chữ quốc ngữ chỉ trong một thời gian ngắn đã tăng lên gấp nhiều lần so với số văn bản chữ Nho của toàn bộ lịch sử nước ta trước đó. Cũng chính nhờ chữ quốc ngữ mà về mặt hình thức, ngôn ngữ của chúng ta đã thoát khỏi vòng kiềm tỏa của tiếng Hán. Tỷ như đến giờ phút này, nước Việt ta vẫn dùng chữ Nho để viết và giao tiếp với thế giới, thì đối với họ, ta có khác nào một quận huyện của Trung Quốc? Ta sẽ gặp khó trong việc thuyết phục họ rằng, ta là một quốc gia độc lập, có ngôn ngữ và văn hóa riêng.

Tên gọi của nước ta cũng không phải là một sự ngẫu nhiên. Đằng sau mỗi cái tên đều là một lời nhắn nhủ hoặc một mong đợi sâu thẳm. Ông cha ta đã chọn hai chữ Việt Nam để đặt làm tên nước. Việt Nam có nghĩa là tiến về phương Nam. Điều này có nghĩa là gì? Chỉ có thể cắt nghĩa: Tiến về phương Nam để thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Đó là di lệnh của tổ tiên cho các thế hệ con cháu người Việt Nam mình.

Như thế, tổ tiên chúng ta bằng kinh nghiệm và trực giác, thông qua cách chọn tên nước, đã di lệnh cho con cháu: Muốn tồn tại thì phải tiến về phương Nam, thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Lịch sử mở nước của chúng ta trong thời cận đại có thể được hiểu là gì khác hơn việc thực hiện di lệnh của tổ tiên mình?

Nhưng điều không may cho chúng ta là nền văn hóa Trung Hoa có sức ảnh hưởng quá lớn. Nó như một đại nam châm hút các dân tộc xung quanh về phía mình. Nên dù luôn có ý thức vùng thoát khỏi ảnh hưởng của người Trung Quốc, dù đã được cha ông di lệnh kỹ càng, thì lịch sử của Việt Nam luôn là sự giằng xé giữa hai luồng vận động: Vùng thoát khỏi Trung Quốc và chầu về Trung Quốc.
Sở dĩ có sự giằng xé này là vì, trong suốt thời phong kiến, do sự hạn chế của phương tiện giao thông, thế giới bên ngoài đối với nước ta dường như chỉ có một mình Trung Quốc. Khi người của ta chưa đủ đông, kinh tế của ta chưa đủ mạnh, văn hóa của ta chưa đủ trưởng thành, thì việc chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa cũng là điều dễ hiểu.

Nhưng ngày nay, thời thế đã đổi thay. Một em bé sinh ra ở một vùng quê hẻo lánh cũng có đủ thông tin để biết rằng, thế giới không chỉ có một mình Trung Quốc. Thế giới còn có nhiều nền văn hóa khác, mang nhiều giá trị tiến bộ hơn, đáng học hỏi hơn nền văn hóa Trung Hoa, đến mức bản thân người Trung Quốc cũng phải mau mau thay đổi để học hỏi những điều tiến bộ này. Trên thực tế, những vùng nào của Trung Quốc gỡ bỏ được một phần văn hóa Trung Hoa truyền thống để du nhập các giá trị văn hóa phương Tây như các Hồng Kông, Đài Loan… thì đều phát triển vượt bậc so với những phần còn lại của Trung Quốc lục địa.

Nhiều nước châu Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore cũng đã tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa thành công và trở thành những con rồng con hổ châu Á mới. Họ không chỉ giữ được độc lập, mà còn tiến nhanh thành một nước phát triển, được thế giới kính nể trọng vọng.

Hãy lấy trường hợp Nhật Bản làm ví dụ: Bằng cách thực hiện cuộc thoát Á nhập Âu từ nửa sau của thế kỷ 19, Nhật Bản đã tránh được ách nô lệ thực dân và phát triển thành cường quốc chỉ sau một thời gian ngắn. Thoát Á với Nhật Bản thời gian đó là gì, nếu không phải là thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa? Vì vậy có thể nói, chìa khóa để Nhật Bản phát triển thành công là thoát khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Vậy thì tại sao chúng ta lại không làm như họ? Tại sao ta lại không vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc để phát triển, khi gương thành công đã bày ra trước mắt cả trăm năm, khi di lệnh của tổ tiên vẫn còn bên tai văng vẳng?

Câu trả lời chỉ có thể là: Tư tưởng chầu về Trung Quốc đã trở thành một quán tính tâm lý, một vô thức xã hội hay một phản xạ có điều kiện. Tư tưởng này đã ăn sâu vào đời sống ở nhiều dạng nhiều mặt nên khó lòng dứt bỏ được. Với người dân thì đó là sự tiếp nhận văn hóa Trung Hoa một cách vô tư hào hứng qua phim ảnh, sách báo… đến mức trẻ em thuộc sử Tàu hơn sử Ta, quen với đồ chơi Tàu hơn đồ chơi Ta. Thương nhân ta thì chỉ chăm chắm nhập hàng Trung Quốc giá rẻ về bán cho dân, dù biết là hàng kém và có nhiều độc hại. Ở mức quốc gia thì đó là sự ràng buộc đến mức vô lý về ý thức hệ vào người Trung Quốc, dẫn đến thua thiệt và bất bình đẳng trong bang giao quốc tế.

Những việc này đều diễn ra một cách trơn tru tự động, đến mức không mấy ai tự hỏi: Vì sao mọi chuyện lại quá dễ dàng như vậy? Câu trả lời hẳn nhiên là tư tưởng chầu về Trung Quốc đã bén rễ sâu trong tiềm thức của xã hội ta như một chất gây nghiện, tuy độc hại nhưng rất khó từ bỏ. Vì nếu từ bỏ thì sẽ gây ra đau đớn và chống chếnh phần nào. Nhưng từ xưa đến nay, có chất gây nghiện nào có lợi?

Trong hoàn cảnh đó, chỉ còn một cách duy nhất là quán chiếu để nhìn sâu hiểu kỹ tác hại của việc chầu về Trung Quốc, để thấy được mối nguy lâu dài của nó đối với đất nước thì may ra mới có thể dứt bỏ được.

Trước hết là về văn hóa: Có so sánh ra bên ngoài mới thấy, bản sắc văn hóa của ta quá đỗi mong manh. Lý do chính là văn hóa của ta đã bị áp đảo bởi văn hóa Trung Hoa trong suốt nhiều thế kỷ, nay càng bị áp đảo mạnh hơn bởi tiến bộ của phương tiện truyền thông. Nhiều người khi còn sống thì một chữ tượng hình bẻ đôi không biết, nhưng khi chết thì lại được cúng tế bằng các bài văn khấn chữ Nho. Chuông, khánh trong chùa dù mới đúc, cũng hết thảy được khắc bằng thứ chữ của người Hán dù chẳng ai đọc được. Truyền thanh truyền hình, tuy sống bằng tiền thuế của dân Việt Nam ta, lại ngày đêm truyền bá văn hóa Trung Hoa đến tận hang cùng ngõ hẻm. Thời sự hơn nữa thì phim về tổ tông được quay bên Trung Quốc, Vạn Lý Trường Thành được mang về Đà Lạt… Ôi thôi, biết bao nhiêu mà kể!

Xin hỏi: Một dân tộc được định hình chính bởi cái gì? Có phải là bởi đất đai, tài nguyên của dân tộc đó hay không? Chắc hẳn là không. Người ta phân biệt dân tộc này với dân tộc khác bởi chính văn hóa của nó. Nay văn hóa của ta đang bị áp đảo mà dân ta lại vui vẻ cổ vũ chấp thuận, thì khác nào tay ta đã yếu, mắt ta đã chậm mà ta lại tự mua dây về bịt mắt trói tay mình?

Chính do sự áp đảo của văn hóa Trung Hoa nên những thói hư tật xấu của họ đã tìm được đất sống và tác oai tác quái ở ta. Nạn chuộng bằng cấp hư danh, tệ mua quan bán chức, thói tầm chương trích cú, ếch ngồi đáy giếng, ngông nghênh coi thường chân lý, bệnh phụ mẫu quan phương, chính trị thống soái …– những đặc trưng của văn hóa hủ nho Trung Quốc không hề giảm đi trên đất Việt Nam ta mà ngược lại, như rồng gặp nước, múa may phát triển tràn lan, biến hóa gây hại không biết bao nhiêu mà kể. Vì sao vậy? Vì không sáng tạo ra chỉ học đòi bắt chước, nên nhiều người mang lòng kính sợ, nhất nhất tuân theo không dám đổi thay, nên chỉ nhăm nhắm chầu về, nghiêm cẩn như học trò đối với ông thầy.

Nay những thói hư tật xấu này đang tác oai tác quái làm suy đồi văn hóa và đạo đức của ta quá thể. Bệnh hình thức hư danh, tật khoe khoang thành tích, thói hành dân, nịnh trên lừa dưới, tệ chạy chức chạy quyền… đã thành phổ biến , nên không còn cách nào khác là phải dứt bỏ để học những giá trị tiến bộ của phương Tây như dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, thực học thực nghiệp… thì mới có thể tiến kịp người.

Ta phải tự gỡ bỏ tấm khăn đang bịt mắt ta ra, phải vứt bỏ sợi dây đang trói buộc mình thì bàn tay khối óc mới được giải phóng, hoa thơm trái ngọt của sự sáng tạo mới được thành tựu. Còn như chỉ mê muội sùng kính những thứ người ta đã phải bỏ đi, thì mãi lếch thếch lôi thôi cũng là điều tất yếu!

Thứ hai là về kinh tế: Việt Nam ta đang bị áp đảo trong thương mại đối với người Trung Quốc. Nhập siêu từ họ lên đến 90% so với tổng nhập siêu của cả nước ta. Trong khi đó, xuất khẩu từ ta sang họ chỉ chiếm một phần rất nhỏ, lại chủ yếu là nguyên liệu thô và hàng nông sản, là những thứ mà giá trị chẳng được bao nhiêu. Vậy có thể nói, về kinh tế, chúng ta đang phụ thuộc vào họ một cách nặng nề. Nền kinh tế của ta đang ở mức chông chênh, có thể sụp đổ khi họ chủ tâm đóng cửa.

Nhưng điều đáng lo hơn cả là những người có thẩm quyền lại không thấy sự bất thường này. Những dự án lớn hầu hết đều rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Tỷ như, 90% các dự án tổng thầu gần đây đã rơi vào tay họ. Chất lượng của những công trình này rất kém, vì một lẽ giản đơn: Trình độ về công nghệ của họ còn thấp, việc tôn trọng môi trường và văn hóa bản địa họ chẳng quan tâm. Hàng hóa xuất phát từ Trung Quốc luôn bị thế giới cảnh báo là độc hại và kém chất lượng. Chính họ đã gây ra nhiều vấn nạn về văn hóa và môi trường trong nước họ. Vậy thử hỏi, vẫn những con người đó sang nước ta thì làm sao có thể làm tốt cho được?

Đáng tiếc thay, tư duy chộp giật, “sống chết mặc bay tiền thày bỏ túi” của nhiều người có trách nhiệm đã dung túng tình trạng này, gây hại lâu dài cho nền kinh tế. Việc này ta phải trách ta trước hết, vì nếu ta không tiếp tay thì làm sao họ có thể tác oai tác quái. Tiếp tay cho họ hại mình, thời buổi cạnh tranh, hỏi có khác nào mua dây để tự trói chân mình. Mà đã mua dây để tự trói chân mình thì làm sao có thể đi nhanh đi xa cho được?

Chính vì thế, bên cạnh việc vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa về văn hóa, chúng ta cần tìm cách thoát khỏi vòng kiềm tỏa về kinh tế. Nhà nước cần có chính sách giảm thiểu nhập siêu từ Trung Quốc, khuyến khích người trong nước sản xuất kinh doanh. Người Việt phải xây dựng được một nền kinh tế độc lập so với người Trung Quốc, phải mở được những lối đi riêng, tạo dựng được những mô hình phát triển khác hẳn so với họ. Phải phấn đấu trở thành hội điểm đầu tư và thương mại toàn cầu. Việc này nói thì dễ mà làm thì rất khó. Nhưng không vì thế mà không gắng sức, vì tương lai dân tộc phụ thuộc phần nhiều vào chính chỗ này.
Thứ ba là về chính trị: Nước ta đang có một sự ràng buộc kỳ quặc về ý thức hệ đối với người phương Bắc. Họ làm gì thì sớm muộn ta cũng làm theo như bị thôi miên. Rất nhiều khổ đau trong lịch sử của ta đã có nguồn gốc từ việc làm theo như họ.

Dân ta khác, phong hóa của ta khác, đất đai vị thế của ta khác, vậy hà cớ gì ta phải dập khuôn theo? Đành rằng, trước đây ta chỉ biết đến Trung Hoa nên triều chính phải rập khuôn bắt chước, tuy đáng trách những có thể cảm thông. Nhưng nay thế thời đã đổi, thế giới đã mở rộng muôn phương, mà sao ta vẫn nhăm nhắm hướng về phương Bắc? Bao phen cửa nát nhà tan, bị đè đầu cưỡi cổ, mà sao vẫn chưa hết tỉnh hết mê? Lẽ nào, luồng tư tưởng chầu về Trung Quốc, tưởng chừng sẽ nhạt đi khi thế giới được mở rộng ra, lại một lần nữa giở trò mánh khóe kéo chìm ta xuống đáy?

Vì sao vậy? Vì đâu vậy? Vì sự u mê đã đến mức thâm căn cố đế, hay vì đặc quyền đặc lợi của một nhóm người? Di lệnh của tổ tiên và những bài học lịch sử vì sao không còn tác dụng? Dù câu trả lời là thế nào đi chăng nữa thì trên thực tế, sự ràng buộc kỳ quặc về ý thức hệ này đã gây ra nhiều thua thiệt cho ta trong quốc tế bang giao, làm mất đi nhiều cơ hội làm ăn của ta với thế giới bên ngoài. Người ngã xuống vì biên cương hải đảo ta cũng chẳng dám vinh danh… Hỡi ôi!
Thời thế đã đổi thay. Thế giới ngày nay không chỉ có một mình Trung Quốc. Đoàn thuyền ra khơi phần đông đều đi theo một hướng, vậy lẽ gì ta phải tách nhóm đi riêng với kẻ vẫn bắt nạt mình? Sợi dây trói tay trói chân gỡ ra còn chưa được, vậy cớ gì ta lại mua dây để tròng đầu tròng cổ ta thêm?

Và cuối cùng là chủ quyền bị đe dọa: Khi chân tay ta bị trói, đầu cổ ta cũng chẳng được tự do, mắt ta cũng bị buộc nhìn về một hướng, thì thân thể ta làm sao mà vẹn toàn tự chủ? Sự trỗi dậy của người Trung Quốc tất yếu dẫn đến việc họ mở rộng biên giới quốc gia. Tranh chấp với xung quanh là điều khó tránh khỏi. Điều này họ đã công khai thừa nhận. Biển Đông đã nổi sóng. Giờ việc ta cần làm là hãy nhanh nhanh tự cởi trói cho mình, làm cho ta hùng mạnh thêm lên thì mới có thể giữ được vẹn toàn cương thổ.

Khi lực ta còn yếu thì mắt ta phải nhìn xa trông rộng, phải tìm cách kết thân với những kẻ có thế có quyền, có cùng lợi ích cùng mối lo âu để đồng tâm đối phó. Muốn vậy ta phải thiện chí thành tâm, đặt lợi ích quốc gia lên trên những tính toan nhỏ nhặt. Tình thế đã trở nên nguy ngập. Nước Việt ta đang đứng trước một lựa chọn lịch sử: Thoát Trung để phát triển hay cam tâm làm nô lệ một lần nữa?
Là người Việt, không ai muốn trở thành nô lệ ở bất cứ dạng nào. Điều này có nghĩa, lựa chọn duy nhất là vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người Trung Quốc để phát triển.

Vậy thì, hãy làm một cuộc thoát Trung toàn diện để hội nhập cùng thế giới và kiến tạo một kỷ nguyên phát triển mới!
Hãy tỉnh cơn mê, dứt cơn mộng mị! Hãy từ bỏ chất gây nghiện chầu về Trung Quốc! Hãy cởi bỏ tấm khăn bịt mắt! Hãy vứt sợi dây đang trói tay, trói chân, tròng cổ, tròng đầu!
Hãy trở về với di lệnh của tổ tiên: Thoát Trung hay là chết!

Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011

Đối lập trong đảng là tiến bộ và hợp cả với triết học Á Đông


Theo thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành của người Á Đông cổ đại, thế giới tự nhiên luôn biến hóa không ngừng và cần các yếu tố đối lập để ước chế, điều hòa nhằm có được sự phát triển cân bằng, lành mạnh nhất. Theo quan niệm của người xưa, vũ trụ khi mới sinh ra là một khối rất lớn gọi là thái cực. Rồi, thái cực sinh ra hai nghi (lưỡng nghi) là âm dương. Âm dương kết hợp với nhau để tạo ra năm hành (ngũ hành) kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Từ ngũ hành sẽ tạo ra ba thể (tam tài) của vũ trụ là thiên (trời), địa (đất) và nhân (người). Trong mỗi thể đó đều có sự kết hợp chặt chẽ và cân bằng giữa âm, dương và các thành phần của ngũ hành.

Thuyết Âm dương cho rằng âm dương là một thuộc tính nội tại của mọi sự vật, hiện tượng. Từ đất trời, mặt trăng mặt trời cho đến lục phủ ngũ tạng, tính khí buồn vui của con người hay màu sắc trắng đen cũng đều được qui vào âm hay dương. Tuy nhiên, âm dương không phải là một vật chất cụ thể mà là một thuộc tính mâu thuẫn, đối lập nằm trong mọi sự vật, hiện tượng. Tuy đối lập nhưng âm dương còn có tác dụng, ý nghĩa sinh ra nhau, hỗ trợ lẫn nhau. Do đó biểu tượng cho thuyết âm dương là một hình tròn chia đôi bằng nhau bằng một ranh giới mềm mại, bên trắng là dương và bên đen là âm, nhưng bên trắng lại có một nhân đen và bên đen cũng có một nhân trắng. Người xưa thường nói âm ở trong để giữ gìn cho dương, dương ở ngoài để giúp đỡ cho âm. Như vậy, thiếu âm hay thiếu dương, mọi sự vật hiện tượng đều không thể phát triển được bình thường. Nói cách khác, để khôi phục sự phát triển bình thường cần xem xét để nuôi dưỡng, phục hồi lại phần đối lập đã bị mất hoặc nhược.

Thuyết Ngũ hành về căn bản cũng là một cách thừa nhận và biểu thị qui luật mâu thuẫn, đối lập tất yếu và cần thiết của vũ trụ. Thuyết Ngũ hành cho rằng mọi sự vật hiện tượng đều do năm loại chất tạo thành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Mỗi loại vật chất này đều có những tính chất và công dụng đặc trưng mà loại khác không thể thay thế được và chúng kết hợp, tác động tới nhau theo một tinh thần cơ bản là cộng tác và ước chế mà người xưa gọi là Luật tương sinh, Luật tương khắc và Luật chế hóa. Theo Luật tương sinh thì năm loại chất đó có mối quan hệ đều là nguồn gốc của nhau, sinh ra nhau theo một chu trình khép kín: thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy lại sinh mộc và cứ tiếp diễn mãi như thế. Luật tương khắc lại qui định các chất có mối quan hệ đối nghịch, kiềm chế lẫn nhau: mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc và mộc lại khắc thổ. Còn Luật chế hóa là sự phối hợp của tương sinh, tương khắc nhằm giữ cho sự vật, tự nhiên được phát triển trong thế quân bình, không để cho một lực lượng, vật chất nào trở thành thống soái hay phát triển thái quá (đều là hại). Ví dụ: Mộc khắc thổ, thổ sinh kim, nhưng kim lại khắc mộc, vậy, nếu mộc khắc thổ một cách thái quá thì “con” của thổ là kim tất sẽ khắc mộc để kìm chế sự thái quá của mộc. Tương tự, hỏa khắc kim, kim sinh thủy, thủy lại khắc hỏa, v.v. Như vậy, theo thuyết Ngũ hành thì sinh và khắc đều cần thiết cho sự phát triển và giữ gìn thế cân bằng trong vũ trụ, để không một lực lượng, vật chất nào có thể trở thành duy nhất, độc đoán.

Nhìn vào thực trạng tự nhiên hiện nay của trái đất cũng có thể thấy thuyết âm dương, ngũ hành vẫn còn nguyên giá trị. Hai cực của trái đất và sa mạc Sahara là những nơi mất cân bằng lớn về âm dương đều là những nơi có sự sống, sự phát triển rất khó khăn và nghèo nàn. Còn nơi đâu âm dương cân bằng, ngũ hành đầy đủ, nóng lạnh đồng đều, mưa nắng thuận hòa thì sản vật, muôn loài đều trù phú, dễ dàng sinh sôi, nảy nở. Nhưng đó mới chỉ nói đến hai thể đầu tiên của tam tài là Thiên Địa.

Còn nếu nhìn vào xã hội của Con người (Nhân) thì cũng thấy các quốc gia phát triển cân bằng nhất, lành mạnh nhất hiện nay đều là các quốc gia tôn trọng (một cách vô tình hay hữu ý) thuyết Âm dương, thuyết Ngũ hành, cho dù quốc gia đó đang ở Đông hay Tây. Trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội của các quốc gia Bắc Âu (Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan), Bắc Mỹ (Canada, Mỹ) hay các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, qui luật âm dương, tương sinh, tương khắc, chế hóa của thuyết Âm dương, Ngũ hành đều hiển hiện rõ ràng, được yêu mến và tôn trọng nghiêm ngặt. Ở đó có đảng cầm quyền thì lại có đảng đối lập, có báo chí nhà nước thì cũng có báo chí tư nhân, có cánh tả thì lại có cánh hữu, nhà nước có cảnh sát thì dân chúng có quyền biểu tình, v.v. Không lực lượng nào có quyền tuyệt đối hay dám tự nhận là lực lượng “tiến bộ”, “ưu tú” của xã hội. Và bản thân ngay trong một đảng, một lực lượng cũng có những “phần tử” đối lập, chống đối nhưng vẫn được tôn trọng, được sống, được sinh hoạt yên bình một cách “tương sinh, tương khắc” với các đồng đảng và các thành phần khác trong xã hội. Việc thay đổi quan điểm chính trị hay từ bỏ đảng tịch cũng được coi là một chuyện tự nhiên đúng như “trong âm có âm dương, trong dương có dương âm, âm đến cực độ sinh ra dương, dương đến cực độ sinh ra âm.”

Vì vậy, nếu một đảng cầm quyền đang tha hóa, cần chỉnh đốn, sửa chữa mà lại có những đảng viên dám nêu lên những quan điểm đối lập với nghị quyết, với cương lĩnh của đảng thì đó là một hiện tượng không chỉ hợp với qui luật tự nhiên, với triết học Á Đông mà còn là một nhân tố quí cho sự tiến bộ của chính đảng đó và đất nước đang phải chịu sự lãnh đạo của nó. Những ý nghĩ không đồng tình với quan điểm đối lập đó cũng là lẽ tự nhiên, nhưng sẽ trái tự nhiên, chống lại Trời Đất và phản lại tiến bộ nếu lại coi sự đối lập là “thù địch” hay muốn “xử trí nghiêm khắc” những nhân tố đối lập đó.

Phạm Hồng Sơn
12/01/2011

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2010

Tội “chống nhà nước” và nỗi đau của Khổng tử



Nhà nước hay triều đình thì thời nào cũng có thể là một trong hai loại, hoặc là công minh, thương dân hoặc là bất chính, hại dân. Ấy vậy mà thời nào khi một người đã bị khép vào tội “chống nhà nước” hay “chống triều đình” thì coi như mạng sống đã nằm trong tay kẻ khác. Tội ấy luôn là một tội chết. Nhưng lại hầu như thời nào cũng vẫn có người dám cả gan chống lại Triều đình, Chính phủ hay Nhà nước.

Những người cả gan ấy, chắc phải quá mải mê chạy theo chữ Nhân, chữ Nghĩa lắm, nên mới quên khuấy mất chữ Chết. Vì nào có ai lại không sợ chết? Người nào dám khinh cốt nhục bản thân và gia quyến? Lại còn có kẻ nào dại dột đến mức đi chạy theo chữ Lợi đang có chữ Chết lủng lẳng ngay phía trước? Ngay Khổng tử, “vạn thế sư biểu” (người thầy mẫu mực cho muôn đời), người đã răn người ta phải sống theo Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, còn phải sợ cái hà khắc của triều đình đương thời đến mức lại đi khuyên người ta phải “Chính danh” trong mọi chuyện, nhất là trong những việc “chính trị”. Đã làm vì Nhân, vì Nghĩa thì còn xá gì Danh? Nếu đây không phải là nỗi đau đời không nói ra của Khổng tử thì chắc chắn là một mâu thuẫn, một khiếm khuyết lớn trong tư tưởng của “vạn thế sư biểu”.

Chắc lúc đó Khổng tử không biết (hoặc biết mà chưa kịp nói với các môn đệ) rằng loài người sau ông sẽ giải quyết được mâu thuẫn đương thời của ông- mâu thuẫn giữa thân phận bé nhỏ của kẻ Tiện dân với khao khát làm những việc Nhân, Nghĩa to lớn cho Xã hội. Các hệ thống chính trị dân chủ tự do ngày nay đã không chỉ thừa nhận mà còn đảm bảo để người dân được tự do thực hiện quyền chống (phản đối) sự đồi bại của chính phủ, chống chính sách sai lầm, ác độc của nhà nước hay chống bất cứ cái gì một cách hòa bình và được tự do tham gia, tác động vào mọi công việc điều hành đất nước, quản lý xã hội, bất chấp vị thế hay thân phận. Những điều đó đã được toàn thế giới công nhận là một Quyền đương nhiên của loại động vật có tên là Người[i]. Nói cách khác, loài người nói chung đã đi đến chỗ coi chuyện công khai bày tỏ sự yêu, ghét, ủng hộ hay phản đối bất kỳ cái gì một cách ôn hòa là chuyện thường tình, hữu ích cho loài người và không thể cấm được. Ngay các chính thể hà khắc nhất, bất nhân nhất cũng đâu có ngăn được “bia miệng” và các loại “bia” để đời khác vẫn cứ sừng sững dựng lên dành cho chúng.
Khổng tử chắc phải đang ngậm cười khi thấy mâu thuẫn, khiếm khuyết của ông đã được hậu thế ở nhiều nước hóa giải bằng lý luận và thực tiễn. Ở những nước đó lý tưởng “dân chi sở hiếu, hiếu chi; dân chi sở ố, ố chi.[ii] đã được thực hiện rất dễ dàng đúng như mơ ước của Khổng tử. Chỉ có khác, ở những nước đó, người dân không chỉ ước mong hay cầu xin như ông mà họ đã lập được những thiết chế buộc kẻ làm “vua” phải biết “hiếu chi” và “ố chi”, bằng không kẻ đó phải “về vườn” ngay tức khắc.

Nhưng Khổng tử chắc cũng đang đau xót lắm khi “triều đình” trên chính quê hương ông và “triều đình” chư hầu của vài nước lân bang vẫn không chịu hóa giải nỗi đau đời cho ông. Những “triều đình” đó vẫn muốn khép tội chết cho người dám vạch trần sự đồi bại của “triều đình” hay chỉ đơn giản bày tỏ hộ nỗi lòng dân muốn có một “triều đình” khác bớt tham tàn hơn, bớt đớn hèn hơn. Nhưng chết thì ai mà cuối cùng chả phải chết. Chỉ thật thương cho vong linh của Khổng tử và kiếp người tại những nước đó, vẫn chưa thoát được sự đọa đày, trói buộc vì lòng tham của một số kẻ có quyền, mà thôi.

Phạm Hồng Sơn
27/05/2010


[i] Tuyên ngôn Toàn thế giới về Quyền con người, Điều 19 ghi nhận: “Mọi người đều có quyền tự do về ý kiến và ngôn luận, quyền này bao gồm cả quyền không bị lo ngại về những ý kiến của mình và quyền tìm kiếm, thu nhận và phổ biến những thông tin và những ý tưởng bất cứ bằng phương tiện diễn đạt nào, và không bị giới hạn về các loại biên giới.” Điều 21.2: “Với những điều kiện bình đẳng, mọi người đều có quyền đảm nhận những chức năng công cộng của nước mình.” Điều 21.3: “Ý chí nhân dân là nền tảng uy quyền của các quyền lực công cộng; ý chí đó phải được thể hiện bằng các cuộc bầu cử trung thực được tổ chức theo kỳ hạn; theo chế độ phổ thông bình đẳng và bỏ phiếu kín, hoặc theo một thủ tục tương tự nhằm bảo đảm tự do bỏ phiếu.
[ii]phải thích cái thích của dân, phải ghét cái ghét của dân.”, đây là nguyên tắc mà Khổng tử quan niệm kẻ làm vua phải tuân theo.