Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp luật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp luật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Đừng lầm “Tù nhân” với “Phạm nhân”

Phạm Hồng Sơn

Đọc thông tin trên mạng gần đây thỉnh thoảng thấy cả những người thân của một số tù nhân lương tâm gọi người nhà của mình đang bị cầm tù là “phạm nhân”. Cách gọi này nên được nhìn nhận lại.

 “Phạm nhân” (person who breaks law, who commits a crime) là từ chỉ thấy dùng đại trà đối với mọi người tù từ khi chế độ độc tài cộng sản hình thành trên đất Việt. “Phạm nhân” là từ có ý miệt thị, thiên lệch ngầm khẳng định một cách tùy tiện người đó đã “phạm tội” bất biết oan-sai. “Phạm nhân” đã tước đi nguyên tắc suy đoán vô tội của luật pháp và chà đạp phẩm giá con người.

“Tù nhân” (prisoner) là một từ trung tính, chỉ người bị cầm tù bất cứ vì lý do gì, có tội thực hay bị oan sai, bị bách hại.

Trong các hệ thống tư pháp dân chủ, một người bị tòa án tuyên là có tội (found guilty) cũng chỉ bị gọi là người đã bị kết tội, người đã có án (convict, convicted) chứ không bị gọi với  ý khẳng định tuyệt đối rằng họ đã phạm tội, phạm luật – vẫn để mở cho mọi khả năng xem xét lại vấn đề và tránh tối đa việc động chạm tới nhân phẩm.

Rất mong chúng ta – những người muốn có Nhân quyền, Công lý – đừng sử dụng nhầm hai từ này.○ 

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2012

Công Khai Là Linh Hồn Của Công Lý


Chỉ còn 03 ngày nữa là đến phiên tòa xét xử ba thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do và 05 ngày nữa là tới phiên tòa phúc thẩm dành cho bốn anh em người Công giáo còn rất trẻ. Lẽ thường nói đến “Tòa Án” hay “Phiên Tòa” là người ta phải nghĩ tới Công lý, phải liên tưởng tới những thủ tục nghiêm cẩn, khách quan, phân minh, chính trực nhằm tìm ra Sự thật và lập lại Công Lý. Nhưng liệu những “phiên tòa” sắp diễn ra nói trên có thể mang lại Công lý, Sự thật, dù là chút nhỏ nhoi, không? Hy vọng bài viết sau sẽ giúp chúng ta tìm được câu trả lời cho câu hỏi khắc khoải này.


Công Khai Là Linh Hồn Của Công Lý

Nam Hải Trường Sơn


Nguyên tắc tòa án mở (open courts) là một nền tảng chủ chốt của hệ thống tư pháp độc lập trong các xã hội dân chủ tự do và việc xét xử công khai (public trial) là hiến quyền tại nhiều nước phương Tây. Vào tòa quan sát việc xét xử cũng dễ dàng và đơn giản như vào thư viện công cộng đọc sách. Kiến nghị hay xin phép tham dự là chuyện thừa thãi không cần thiết, phí phạm thời gian và tài nguyên của tòa án cũng như của chính mình.

Mục Đích Của Nguyên Tắc Tòa Án Mở

Nguyên tắc tòa án mở phát xuất từ mục đích phục vụ năm nhu cầu chủ yếu của một hệ thống tư pháp công chính.

Thứ nhất, tòa án mở có tác dụng duy trì tiến trình duyệt xét chứng cứ hữu hiệu. Về mặt tâm lý chủ quan, sự hiện diện của khán giả sẽ giảm thiểu khả năng khai man và bóp méo sự thật của nhân chứng bằng cách khuyến khích tinh thần trách nhiệm trước dư luận công chúng (qua biểu tượng của khán giả hiện trường đang sẵn sàng khinh miệt kẻ gian dối trước tòa). Đồng thời, sự hiện diện của khán giả sẽ khiến nhân chứng e sợ rằng lời khai man của họ có thể bị những người biết rõ nội tình trong đám khán giả (hoặc những người khác được khán giả hiện trường báo cho biết về lời khai của nhân chứng) vạch trần. Về mặt cơ hội khách quan, tòa án mở tạo điều kiện cho những người biết rõ nội tình tham gia quan sát việc xét xử và qua đó có thể đứng ra làm chứng, cung cấp thêm thông tin (mà trước đây nguyên cáo hoặc bị cáo cũng như quan tòa và bồi thẩm đoàn chưa hề biết) để làm sáng tỏ vấn đề hoặc để đối chất với kẻ khai man trước tòa.

Thứ hai, tòa án mở góp phần đảm bảo rằng quan tòa và bồi thẩm đoàn hành xử đúng đắn, có nhiệm vụ khắc phục thành kiến cá nhân, và phản ánh giá trị của cộng đồng để tạo dựng niềm tin cho người thưa kiện rằng trình tự cũng như kết quả của việc tố tụng là công bằng.

Thứ ba, tòa án mở xúc tiến cảm thức chung của công dân rằng tòa án hoạt động dựa trên cơ sở chính trực và sự hiện diện của khán giả nâng cao chất lượng của quá trình thực thi công lý.

Thứ tư, tòa án mở tạo điều kiện để người dân có cơ hội học hỏi về cơ chế vận hành của hệ thống tư pháp và thấu hiểu việc pháp luật ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ được áp dụng như thế nào tại tòa án.

Ngoài bốn mục đích có giá trị về mặt hệ thống và xã hội nêu trên, tòa án mở còn nhắm vào mục đích phục vụ quyền lợi riêng của nguyên cáo, bị cáo hoặc những cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến nội vụ tố tụng. Tòa án mở là diễn đàn công cộng được pháp luật bảo vệ để họ có thể mạnh dạn thổ lộ trước mặt quần chúng những uất ức hoặc bất công mà họ đã phải âm thầm gánh chịu.

Cơ Sở Pháp Lý Tại Bắc Mỹ

Tại Canada, tòa án là trường sở công cộng và những gì xảy ra tại tòa án là việc công cho dù tòa án chỉ đang xét xử tranh chấp riêng tư giữa hai cá nhân hay cá thể. Bởi thế, tòa án phải được mở rộng để công chúng tự do quan sát, thảo luận, và báo cáo những gì xảy ra tại đó. Tính trọng yếu của nguyên tắc tòa án mở đã có một lịch sử cao quý kéo dài đến cả mấy thế kỷ nay.

Vào năm 1913, thẩm phán Loreburn, trong án lệ nổi tiếng Scott v. Scott, đã xác nhận rằng: "Một luật lệ thâm căn cố đế [trong hệ thống tư pháp của Khối Liên Hiệp Anh] là công lý phải được thực thi giữa tòa án mở." Cũng trong án lệ này, thẩm phán Shaw đã tuyên bố rằng: "Công khai là linh hồn của công lý." Hay nói cụ thể như ý kiến đồng thuận của thẩm phán Halsbury: "[T]ất cả các Tòa Án công lý đều mở rộng để đón tiếp mọi thần dân của Quốc Vương."[1]

Trong án lệ R. v. Josephson, Tối Cao Pháp Viện Canada tái khẳng định rằng: "Đặc tính công cộng và mở rộng của tòa án là một nguyên tắc của luật phổ thông [luật tiền lệ] và nếu những điều kiện đó không được thỏa mãn thì tòa án sẽ không tồn tại và mọi trình tự đều vô hiệu lực."[2]

Khi Bản Hiến Chương Nhân Quyền Và Tự Do được ban hành vào năm 1982 (được gọi tắt là Bản Hiến Chương), nguyên tắc tòa án mở của luật phổ thông được gián tiếp đưa lên địa vị hiến quyền. Trong án lệ Edmonton Journal v. Alberta (A.G.), Tối Cao Pháp Viện Canada xác nhận rằng quyền tự do biểu đạt (bao gồm quyền tự do báo chí) được liệt kê trong điều 2(b) của Bản Hiến Chương có tác dụng bảo vệ quyền tự do tham gia quan sát việc xét xử tại tòa án.[3]

Tương tự, trong án lệ Richmond Newspapers, Inc. v. Virginia, chánh án Burger của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ cũng xác nhận rằng: "Chúng ta không tìm thấy có chứng cứ gì để gợi ý rằng tính công khai được giả định của quá trình tố tụng, mà các tòa án tại Anh Quốc về sau gọi là 'một phẩm chất cốt lõi của một tòa án công lý' ... cũng không phải là một đặc tính của các hệ thống tư pháp tại thuộc địa Hoa Kỳ .... Từ dòng lịch sử được hậu thuẫn bằng những lý do có giá trị trong hiện tại cũng như trong nhiều thế kỷ đã qua mà chưa hề bị phủ nhận và gián đoạn đó, chúng ta buộc phải kết luận rằng tính công khai là một giả định cố hữu của chính bản chất quá trình tố tụng hình sự trong hệ thống công lý của chúng ta." Để củng cố truyền thống này, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã phán quyết rằng quyền tham quan việc xét xử tại tòa án hình sự của công chúng cũng tiềm tàng trong những bảo đảm của Tu Chính Án Số I (như tự do hội tập, tự do ngôn luận, và tự do báo chí) bởi vì "nếu thiếu quyền tự do tham gia những tiến trình tố tụng mà công chúng đã thực hiện trong nhiều thế kỷ đó, những khía cạnh quan trọng của tự do ngôn luận và 'tự do báo chí có thể bị moi ruột,' [nói theo ngôn từ của thẩm phán White trong án lệ Branzburg v. Hayes]."[4]

Giới Hạn Của Việc Xét Xử Công Khai

Tuy nguyên tắc tòa án mở là một phẩm chất cốt lõi của hệ thống tư pháp dân chủ tự do, tham dự tiến trình tố tụng không phải là một hiến quyền tuyệt đối. Nói cách khác, tùy theo hoàn cảnh, tòa án có thể hạn chế quyền tham dự của một số hay toàn bộ công chúng nhằm duy trì trật tự và bảo vệ đạo đức công cộng, thực thi công lý một cách đúng đắn, hoặc ngăn ngừa việc gây tổn hại cho quan hệ quốc tế, quốc phòng hay an ninh quốc gia. Sau đây là một số ví dụ cụ thể.

Tòa án là trường sở công cộng thường có diện tích tương đối hạn hẹp và số lượng chỗ ngồi dành cho khán giả tương đối ít. Trong trường hợp phiên tòa thu hút quá nhiều người muốn tham quan, tòa án có thể dùng hệ thống bốc thăm hay xổ số để phân phát chỗ ngồi cho công chúng và giới truyền thông, dựa theo nguyên tắc chọn lựa ngẫu nhiên. Tòa án có quyền từ chối tiếp nhận công chúng nếu sức chứa của tòa đã đạt giới hạn. Tòa án có quyền cấm người quan sát tụ tập giữa lối đi hay hành lang của tòa, để duy trì việc thông hành. Tòa án có quyền đuổi những kẻ phá rối trật tự hoặc tỏ thái độ uy hiếp nhân chứng ra khỏi tòa.

Tại Hoa Kỳ, Tu Chính Án Số I không bắt buộc tòa án phải truyền hình bất cứ trình tự tố tụng nào. Trong thực tế, khẩu biện trước Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ chưa bao giờ được truyền hình cho công chúng xem lần nào cả. Tòa án có thể nghiêm cấm vệc sử dụng máy chụp hình hay máy truyền hình trong nội thất tòa án.

Tòa án có quyền ban hành lệnh cấm các cơ quan truyền thông cũng như công chúng loan báo những gì xảy ra tại phiên tòa để bảo vệ thân phận của tất cả các nạn nhân hay nhân chứng vị thành niên (thường là dưới 18 tuổi) trong các vụ án xét xử tội trạng bạo hành tính dục. Tòa án có quyền mời toàn bộ khán giả ra khỏi tòa án trong khoảng thời gian mà lời khai của nhân chứng thổ lộ bí mật quốc gia hay bí mật thương nghiệp, nhưng không thể lâu hơn thế, cũng như có quyền loại trừ sự hiện diện của trẻ thơ dưới hai tuổi mà không cần viện dẫn lý do.

Cơ Sở Pháp Lý Tại Việt Nam

Điều 131 của Hiến Pháp Việt Nam 1992 (được sửa đổi và bổ sung năm 2001, và sau đây tôi sẽ gọi tắt là Hiến Pháp) quy định: "Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định." Điều khoản này có hai ý nghĩa pháp lý chủ yếu. Thứ nhất, tiến hành việc xét xử công khai là một trách nhiệm hiến định mà bất cứ Tòa Án Nhân Dân nào (bao gồm Tòa Án Nhân Dân Tối Cao) cũng phải thực thi nghiêm chỉnh. Thứ hai, điều khoản này gián tiếp thừa nhận rằng công chúng có quyền tự do tham dự việc xét xử tại tất cả mọi Tòa Án Nhân Dân. Bởi lẽ nếu người dân bị khước từ quyền hạn này thì điều 131 sẽ trở nên vô nghĩa vì Tòa Án Nhân Dân không thể thi hành nhiệm vụ xét xử công khai hiến định của mình khi công chúng không có hiến quyền tương xứng để tự do hiện diện tại tòa án. Hai khía cạnh pháp lý hỗ tương ỷ tồn này (trách nhiệm của tòa và quyền của công dân) được điều 18 của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự diễn giải và quy định một cách rõ ràng: “Việc xét xử của Tòa án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do bộ luật này quy định."

Lý Thuyết Và Hiện Thực

So sánh văn bản hiếp pháp của Canada, Hoa Kỳ, và Việt Nam, chúng ta có thể thấy rõ địa vị hiến pháp của nguyên tắc tòa án mở tại Việt Nam được xác lập một cách trực tiếp, mạnh mẽ và hiển nhiên hơn cả. Điều nổi bật đáng nói là trách nhiệm hiến định của Tòa Án Nhân Dân trong việc xét xử công khai. Nhưng vẻ đẹp đối tỉ kết thúc hụt hẫng ở ngay đây vì điều trớ trêu đáng ân hận là tu từ hoa mỹ này chẳng có tí giá trị thực tiễn nào cả.

Lúc còn là sinh viên trường luật tại Canada, một chuyện làm tôi rất hổ thẹn và đau lòng là khi bàn đến Hiến Pháp của Việt Nam các bạn học cùng lớp hội thảo luật hiến pháp của tôi đã từng tuyên bố một cách mỉa mai rằng: "Vietnam's Constitution is a joke!" ("Hiến Pháp Việt Nam là một trò hề!"). 

Tôi cứng họng, bởi vì chỉ nhìn vào điều 4 của Hiến Pháp không thôi là tôi biết mình sẽ đuối lý; nó hiến pháp hóa sự lãnh đạo tuyệt đối và vô kỳ hạn của Đảng và đồng thời là điều khoản duy nhất được thực sự thi hành tại Việt Nam. Đối với những phần còn lại, vị giáo sư phụ trách lớp hội thảo này phê một câu có tính chất ngoại giao cao hơn vì nó mang ý nghĩa nước đôi: "Just words!" Vừa như khen lại vừa như chê. Khen, nếu chữ "just" được dùng dưới dạng tính từ: "Ngôn từ công lý!" Chê, nếu chữ "just" được dùng dưới dạng trạng từ (tương đương với "only"): "Chỉ là ngôn từ thôi!" Nhưng dẫu hiểu theo cách nào đi nữa trọng tâm vẫn là chữ "words" với hàm ý là ngôn từ hay lý thuyết không có giá trị thực tiễn.

Hơn mười mấy năm trôi qua, lời bình của bạn học và thầy cũ của tôi vẫn giữ nguyên vẹn tính chính xác. Nhưng tôi biết chắc họ sẽ hân hoan vô cùng nếu ngược lại ý kiến của họ không còn hợp thời nữa. Tòa án mở cũng như tất cả mọi khía cạnh công lý và bình đẳng khác của xã hội Việt Nam chỉ trở thành hiện thực khi công cuộc cách mạng dân chủ thành công. Đó là một hành trình gian nan nhưng chúng ta phải mạnh dạn dấn bước.○
_____________________________________________________
[1]Scott v. Scott, [1913] A.C. 417.
[2]R. v. Josephson (1949), 7 C.R. 273 (Man. C.A.).
[3]Edmonton Journal v. Alberta (A.G.), [1989] 2 S.C.R. 1326.
[4]Richmond Newspapers, Inc. v. Virginia, 448 U.S. 555 (1980).


(Như Cây Tre Việt Nam trân trọng cảm ơn tác giả đã cho phép sử dụng bài và biên tập lại cho phù hợp với bối cảnh hiện thời. Bài gốc có thể xem tại: Blog Nam Hải Trường Sơn)

Thứ Năm, 26 tháng 7, 2012

Về phiên tòa xử ba thành viên Câu lạc bộ Nhà báo tự do. The imminent trial of the Club of Free Journalists.


(Bilingual)

Về phiên tòa xử ba thành viên Câu lạc bộ Nhà báo tự do, ông Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), bà Tạ Phong Tần, ông Phan Thanh Hải (Anh Ba Saigon).

Theo một trao đổi vừa mới thực hiện với Luật sư Hà Huy Sơn-đại diện pháp lý, người sẽ bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày) - chúng tôi được biết:

Quyết định xét xử đã ghi rõ:

  1. Ngày mở phiên tòa (sơ thẩm): 08h ngày 07/08/2012 tại Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh 131 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Nghé, Quận I.
  2. Thành phần tham gia tố tụng:
Chủ tọa phiên tòa: Thẩm phán Vũ Phi Long.
Hội thẩm nhân dân: Bùi Quang Việt, Đặng Phi Công.
Thư ký phiên tòa: Hà Đình Lăng.
Kiểm sát viên: Nguyễn Quang Vinh.
Cùng ba bị cáo: Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải và những luật sư bào chữa, đại diện pháp lý cho các bị cáo.
“Người  làm chứng”: (để trống)

  1. “VỤ ÁN ĐƯỢC XÉT XỬ CÔNG KHAI”.
Như vậy việc người dân, bất kể ai (là người thân hay không thân), đều có quyền được tự do tham dự (chứng kiến) phiên tòa này là điều đương nhiên, vì đó là PHIÊN TÒA CÔNG KHAI.

Việc đến tham dự phiên tòa không chỉ là sự biểu tỏ ủng hộ những người đã dấn thân cho tự do của đất nước, một hành động góp phần bảo vệ pháp luật mà còn là một sự thực hành thiết thực, một xác quyết quyền tự do đã được luật pháp qui định.


Photo: http://danlambaovn.blogspot.com/ 

The imminent trial of Mr. Nguyen Van Hai (aka Dieu Cay), Ms. Ta Phong Tan and Mr. Phan Thanh Hai (aka AnhBaSaigon), members of the Club of Free Journalists:

According to Lawyer Ha Huy Son, the legal representative of the accused Nguyen Van Hai (aka Dieu Cay), the decision to hold a trial states:

  1. The hearing will begin at 08:00 am on August 07, 2012 in People’s Court of Ho Chi Minh City at 131 Nam Ky Khoi Nghia, Ben Nghe Precinct, District I, Ho Chi Minh City.
  2. Participants in legal proceedings:
-          Chairman of the trial: Judge Vu Phi Long
-          Lay assessors: Bui Quang Viet, Dang Phi Cong.
-          Clerk: Ha Dinh Lang.
-          Prosecutor: Nguyen Quang Vinh.
-        Accused: Nguyen Van Hai, Ta Phong Tan, Phan Thanh Hai along with their legal representatives.
-          Witnesses: (NA)
3. The hearing will be held PUBLIC

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2011

Vịnh Hạ Long, luật biểu tình, …và Hitler


Vịnh Hạ Long vừa được xếp (tạm thời) vào hạng bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới trong một cuộc bầu chọn mà những người nghiêm túc và yêu khoa học không thể tán thành. Nhưng nếu coi cuộc “bầu chọn vịnh Hạ Long” vừa qua như một phép thử để đánh giá khả năng huy động, khống chế dư luận của chính quyền và đánh giá mức độ tiến bộ về nhận thức xã hội của dân chúng thì có thể thấy chính quyền vẫn còn mạnh ở mức gần như có thể tuyệt đối áp đảo mọi ý kiến trái chiều và nhận thức xã hội đã có sự tiến bộ nhưng vẫn còn rất non yếu. Bằng chứng cho hai nhận định này là việc gần như toàn bộ hệ thống truyền thông đại chúng và các cơ quan đoàn thể, chính trị, xã hội, kinh doanh, nhiều nhân vật “thành đạt” về học vị, chính trị và kinh tế trong xã hội từ trung ương tới địa phương đều tích cực tham gia “bỏ phiếu” (nhắn tin) ủng hộ cho “bầu chọn vịnh Hạ Long”. Và nhận thức xã hội đã tiến bộ là nhiều người đã nhận ra ngay tính chất thiếu đứng đắn, phi khoa học của cuộc “bầu chọn vịnh Hạ Long”, đã công khai bày tỏ bức xúc, chỉ trích, phản đối. Nhưng số lượng những tiếng nói “chống” còn quá ít và yếu so với số “ủng hộ” và (đương nhiên) không thể ngăn chặn được một sự huy động sức lực vô cùng quí giá của xã hội cho một việc tuyệt đối không trung thực ở cấp độ quốc gia.

Vậy với một không gian xã hội rộng như thế, một số lượng người lớn, đa dạng và phức tạp như vậy mà những người cầm quyền vẫn còn lèo lái, khống chế, hướng được tư tưởng, suy nghĩ và hành động của đa số để ủng hộ một vấn đề kỳ cục như vậy thì trong các không gian hạn hẹp hơn, với số lượng người ít hơn nhiều và đã được chọn lọc kỹ như Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ Quốc, Hội Đồng Nhân dân, v.v thì khả năng khống chế tư tưởng, hành động của người cầm quyền chắc chắn cũng phải ít nhất, nói một cách hết sức thận trọng, là không thể kém hơn.

Như thế, với một chính quyền mà khả năng (và ý chí) khống chế tư tưởng, hành động của xã hội vẫn còn mạnh (vì còn kiểm soát gần như tuyệt đối các cơ quan thông tin, truyền thông, các lực lượng bảo vệ trật tự xã hội và pháp luật,…), cùng với một nhận thức tiến bộ nói chung của người dân vẫn còn ít (do bị chính quyền khống chế,...) và yếu (do rất thiếu các công cụ thể hiện như báo đài tư nhân hợp pháp, công khai,…) và hoàn toàn không có các phương tiện bảo vệ, hỗ trợ (tòa án, cảnh sát độc lập,…) thì mọi kết quả bầu chọn, đánh giá hay thậm chí cả trưng cầu dân ý (referendum) do chính quyền khởi xướng hay ủng hộ đều không thể tin cậy và (do đó) không nên trông chờ.

Vậy vấn đề đang “nóng” ở Quốc hội về việc tranh luận “nảy lửa” có nên đưa “Luật Biểu tình”, “Luật Hội” vào nghị trình của Quốc hội có xứng đáng được “nóng” lên trong dư luận như đang diễn ra hay không? Phải chăng đang có một chuyển đổi “dân chủ” thực sự trong Quốc hội? Hay đang có một ẩn ý nào muốn sắp đặt để hướng dư luận đến một hy vọng rằng cuối cùng Quốc hội cũng có một bước “tiến bộ” vượt bậc dám để cho các ý kiến đối lập được va chạm công khai, đáp ứng đúng khát khao đang muốn có thay đổi, muốn có “Luật Biểu tình” hay “Luật Hội” của nhiều người? Rồi có thể đa số của Quốc hội sẽ đưa vào nghị trình và thông qua các luật đó trong nay mai? Nhưng rồi thực tế sẽ cho thấy chính những “Luật Biểu tình” hay “Luật Hội” đó sẽ “trói”, “bắt” tất cả những ai muốn lập hội hay biểu tình thực sự? Tất nhiên, đến nay không ai có thể khẳng định “có” hay “không” cho những nghi vấn vừa nêu. Nhưng một khi ý kiến của các vị đại công thần còn bị hắt bỏ, những kiến nghị chính đáng của những người rất thân với Đảng còn không được hồi đáp hoặc người dân chỉ ngồi nói chuyện với nhau trong quán mà còn không được đảm bảo an toàn thì lấy gì để đảm bảo Đảng sẽ đồng ý cho Quốc hội thông qua những dự thảo luật đặt quyền lợi của dân lên hàng đầu? Và nếu như Quốc hội sẽ thông qua được những luật tiến bộ như thế thì người dân sẽ có phương tiện gì để bắt người nhà nước phải tuân thủ? Trong tình cảnh ngay cả mẹ đẻ (hiến pháp hiện thời) còn bị người ta khinh rẻ trăm điều thì sao có thể kỳ vọng những đứa con (các bộ luật) hay các bà mẹ khác (hiến pháp mới hoặc tu chính) sẽ được người ta tôn trọng, yêu mến?

Có thể nhiều người vẫn cảm thấy vui mừng và tự hào với danh hiệu “Top 7 Wonders” vừa có cho vịnh Hạ Long. Nhưng một danh hiệu thiếu trung thực không thể mang lại một sự yêu mến, tôn trọng. Có thể nhiều người đang thực sự hồi hộp và nóng lòng muốn có luật biểu tình, luật hội hay hiến pháp mới. Nhưng việc có luật biểu tình, luật hội hay thậm chí có một bản hiến pháp với tinh thần và những điều khoản rất dân chủ nhưng không gian trao đổi vẫn bị giới hạn, luồng thông tin và sự phản biện vẫn bị theo rõi và bóp nghẹt thì đó vẫn chỉ là điềm báo của lừa gạt, tai ương hơn là thiện ý, hạnh phúc. Loài người đã phải trả giá nhiều cho những âm mưu, vấp váp, ngộ nhận như thế. Luật thành văn hay hiến pháp dân chủ chưa phải là phương thuốc thiết yếu để ngăn chặn hay chữa trị độc tài mà có thể chính chúng còn tạo ra những chỗ núp đẹp và kín hơn cho những ý đồ thâm độc, những hành động tàn ác với con người. Chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Hồ Chí Minh những năm 1953-1959 và chính thể Third Reich của Adolf Hitler những năm 1933-1939 là những minh họa rõ ràng cho những bài học đau đớn đó của nhân loại.

Phạm Hồng Sơn
18/11/2011

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

HTV và Gaddafi


HTV (Đài phát thanh và Truyền hình Hà nội) và Gaddafi là hai cái tên quá hết sức khác biệt và cách xa nhau cả về địa lý lẫn bản chất. Nhưng cái chết thê thảm, nhưng ít thương cảm, của Gaddafi vừa qua và việc HTV đang bị kiện vì đã “vu khống, xuyên tạc, xúc phạm nghiêm trọng” một số công dân lại liên quan tới cùng một vấn đề, đó là tính Thượng tôn Pháp luật (rule of law).

Rõ ràng, nếu trong 42 năm cầm quyền, hoặc chỉ cần vài năm gần đây sau khi có những kêu gọi cải cách chính trị, Gaddafi thực tâm biết xây dựng cho Lybia có một nền chính trị lấy Thượng tôn Pháp luật làm nền, biết giúp cho xã hội cư xử với nhau bằng luật pháp (chứ không phải luật rừng), thì chắc chắn Gaddafi đã có thể về hưu hoặc ngồi tù một cách đàng hoàng êm ả hoặc chí ít Gaddfi cũng không phải trốn chui trốn lủi rồi cuối cùng (có thể) đã bị hành quyết vội vã hay chết vì những viên đạn từ những chiến binh đầy lòng hận thù (vì đã bị Gaddafi xử quá tệ) hoặc từ chính những tay súng (trung thành với Gaddafi) nhưng hoảng loạn trước làn sóng cách mạng đang cuốn tới. Đó là chuyện của Gaddafi, với cái kết rất buồn, là chuyện đã rồi.

Nhưng vụ kiện HTV là câu chuyện đang diễn tiến nếu không muốn nói là mới bắt đầu, dù một tòa án đã bác đơn kiện. Khi một số người dân viện đến công cụ pháp luật, mà không (hoặc không dám, hoặc chưa) viện đến những cách thức khác, để đòi hỏi một cơ quan, tổ chức phải công khai đối diện, phải có trách nhiệm với sự đúng, sai cho một vấn đề, một ẩn ức nào đó, thì đó là một tín hiệu không chỉ rất thiện chí, tiến bộ của những người dân khởi kiện mà còn là cơ hội rất tốt để những người có thẩm quyền tạo ra những thay đổi thực sự theo tinh thần Thượng tôn Pháp luật.

Dĩ nhiên, đã chấp nhận Thượng tôn Pháp luật thì cũng phải hiểu việc thua kiện bất kỳ ai (dù “bé nhỏ” đến mức nào) cũng là chuyện rất bình thường, nhưng lại hết sức tốt đẹp cho tương lai của chính người thua. Vì chính Pháp luật mới có thể giúp ta an tâm trong mọi tình huống hay “hạ cánh” thực sự an toàn khi hữu sự. Linh hồn (nếu có) của Gaddafi và người con trai Mutassim, chắc đã phải hiểu, chính Thượng tôn Pháp luật (rule of law) chứ không phải là hầm ngầm, cống ngầm, máy bay lên thẳng hay các đệ tử.

Phạm Hồng Sơn
22/10/2011

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

“Thượng Tôn Pháp Luật”


Nguyên tắc “Thượng tôn pháp luật” (Rule of law) thường được hiểu với nghĩa sơ khai là: “pháp luật có quyền lực cao nhất, trên tất cả mọi người và mọi người đều phải tuân thủ pháp luật”. Ý nghĩa này, về mặt lịch sử, xuất phát từ mơ ước của con người từ thời cổ đại mong được sống một cuộc đời không phụ thuộc vào sự thất thường, lắm khi tàn ác, của những kẻ có quyền. Aristotle của Hy lạp thế kỷ thứ IV trước CN đã viết “xã hội phải được quản lý bằng pháp luật và những người có quyền lực chỉ là người phục vụ pháp luật ”. Hàn Phi Tử của Trung quốc thế kỷ thứ III trước CN cũng mong muốn “pháp luật chứ không phải kẻ có quyền được điều khiển nhà nước.”

Tuy nhiên “Thượng tôn pháp luật” (với ý nghĩa sơ khai vừa nêu) không những chưa đủ để con người tránh được sự tàn ác, xảo trá của kẻ cầm quyền, mà, như lịch sử và thực tại cho thấy, còn trở thành vỏ bọc “hợp pháp” cho sự thống trị, đàn áp của những kẻ cầm quyền độc đoán. Adolf Hitler đã dùng luật để tiễu trừ người Do thái, các lãnh đạo cộng sản trong thế kỷ XX đã tạo ra luật để cướp đoạt tài sản, “ngăn sông cấm chợ” và nẫng đi những tự do vốn đã ít ỏi của dân chúng và ngay gần đây, Taliban đã dùng luật để phá tan hai pho tượng Phật độc nhất vô nhị của loài người!

“Thượng tôn pháp luật” với ý nghĩa đầy đủ và hiện đại phải được gắn kết một cách hữu cơ với sự tổ chức, vận hành của các cơ quan quyền lực của nhà nước, xã hội và có mục đích tối hậu nhằm bảo vệ quyền con người. Để “Thượng tôn pháp luật” đáp ứng được đúng ước mơ nguyên thủy của con người, các học giả hiện đại đã chỉ rõ “Thượng tôn pháp luật” phải được đặt trên bốn nền tảng sau đây:

1. Pháp luật phải có khả năng dễ dàng buộc các cơ quan nhà nước và mọi nhân viên của nó phải có trách nhiệm, phải trả giá thích đáng cho mọi hành vi sai phạm.

2. Pháp luật phải rõ ràng, công khai, ổn định và công bằng và phải nhằm mục đích bảo vệ các quyền cơ bản của con người.

3. Qui trình phê chuẩn pháp luật, thực thi pháp luật và bảo vệ pháp luật phải đảm bảo tính hiệu lực, công bằng và tính sẵn sàng chịu sự giám sát và chấp nhận nhu cầu thay đổi của dân chúng.

4. Quá trình phán xử (bảo vệ công lý) phải do những thẩm phán, luật sư có đạo đức, độc lập và đủ năng lực thực thi. Các viên chức tư pháp phải có đủ về số lượng, được đảm bảo thích đáng về nguồn lực, phương tiện khi thi hành công vụ và họ phải thể hiện được tính đa nguyên trong cấu trúc xã hội.

“Thượng tôn pháp luật” cũng như “Nhà nước pháp quyền” ngày nay đã trở thành những tiêu chuẩn, nền tảng của một xã hội văn minh. Những nguyên tắc này đã phổ quát và đúng đắn đến mức mọi chính quyền độc đoán đều không thể từ chối tán thành, bất chấp cả nguồn gốc phương Tây. Chỉ khác là những chính quyền độc đoán luôn trắng trợn giấu diếm và ngang ngược biện bạch cho sự thiếu vắng bốn nền tảng kể trên.

Cách nay hơn 250 năm Montesquieu đã có một nhận định bất hủ ”Kẻ cầm quyền độc đoán chả có pháp luật gì ngoài sự tùy tiện tai hại cho toàn xã hội.” (le despote n'a aucune règle, et ses caprices détruisent tous les autres). Điều đó cũng có nghĩa là nhân dân chẳng cần phải tôn trọng pháp luật, nếu pháp luật đó chỉ do những kẻ độc đoán quyền lực và thuộc hạ của chúng tạo ra.

Phạm Hồng Sơn
27/01/2010

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2009

Ủng hộ bà Ba Sương

Theo tinh thần trọng pháp của Hàn Phi cách đây hơn hai ngàn năm “Pháp luật bất vị thân” (“Pháp luật không hùa theo người sang. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không thể tránh.) hay theo tinh thần Nhà nước Pháp quyền hiện đại “Trước pháp luật mọi người đều bình đẳng” thì việc phản đối bản án phúc thẩm 08 năm tù giam và buộc bồi hoàn hơn hơn 4,3 tỷ đồng đối với bà Trần Ngọc Sương (cựu giám đốc Nông trường Sông Hậu) bằng những lý do như có nhân thân tốt (có cha và bản thân đều được phong danh hiệu Anh hùng lao động và nhiều công lao khác) hoặc có hơn 100 người đã ký đơn “xin ở tù thay” đều không thuyết phục.

Trong một xã hội tôn trọng pháp luật thực sự, thì việc đưa ra những yếu tố tình cảm hay công trạng để biện minh cho sự vô tội không chỉ không cần thiết mà còn có thể làm cho những “thẩm phán” nghiêm minh càng nghiêm khắc hơn.

Nếu bản thân bà Ba Sương và những người ủng hộ bà có niềm xác tín vào những việc mình làm là thuộc về lẽ phải thì bà và những người ủng hộ cần hết sức tự tin, sáng suốt và lạc quan để bảo vệ lẽ phải bằng các công cụ pháp lý với những chứng cứ và lập luận thuyết phục.

Khi lâm vòng lao lý mà vẫn có được sự bảo vệ, chia sẻ công khai từ những người đã từng là cấp dưới, hay nhận được cả sự lên tiếng ủng hộ của cựu Phó Chủ tịch nước như bà Ba Sương thực sự là một hiện tượng hiếm có trong xã hội thời nay và là một lợi thế tinh thần quí giá cho người đang bị cáo buộc. Tuy nhiên, nếu tin rằng một người có danh vị như bà Ba Sương đã bị kết tội bất công, thì lỗi “gốc” không nằm ở các thủ tục tố tụng hay chỉ là vấn đề “quá bất công cho cô ấy”. Nếu không truy được lỗi “gốc” hay chỉ coi đó là trường hợp cá biệt thì xã hội vẫn còn có nhiều bà “Ba Sương” nữa. Hoặc nếu mong cầu sự rủ lòng thương của những kẻ cố tình bách hại thì có thể chỉ nhận được thêm sự khinh thường.

Dĩ nhiên, trong một xã hội mà pháp luật vẫn chỉ là công cụ cho những toan tính của những người có quyền thì việc tranh biện pháp lý cần phải thừa nhận là vô vọng. Nhưng không vô nghĩa. Bởi, bảo vệ lẽ phải luôn cần sự tự tin, đàng hoàng và cả sự chấp nhận thách thức. Trong một xã hội đầy bất công, sự vững vàng, bất khuất của những người đã có danh vị xã hội trong việc bảo vệ lẽ phải lại càng giá trị. Đối với người yêu mến lẽ phải, lao lý không phải là sự thua thiệt.

Phạm Hồng Sơn
22/11/2009

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2009

Nên để việc đó cho chiếc cân !


Cách đây chưa đến 20 năm những người đi chợ thường khổ sở về chuyện cân đo hàng hóa khi mua bán. Hàng hóa khan hiếm làm tăng thói « buôn gian bán lận », « cửa quyền », « hống hách » của người bán hàng. Những gian thương thường sử dụng những chiếc cân sai lệch (không đúng tiêu chuẩn đo lường và dĩ nhiên phải có lợi cho người bán) hoặc dùng những thủ thuật làm lệch cân khi cân hàng hóa để kiếm lợi bất chính. Gian thương có những cách cân như thế cũng thường là những người giỏi nài gọi, chèo kéo khách và luôn kèm thói dọa nạt, cưỡng ép những khách đã chót sa chân. Gian thương không bao giờ để cho khách kiểm tra cân hay tự cân lấy. Nhiều khách hàng biết là bị lừa nhưng trước sự bặm trợn, ầm ĩ, phiền phức giữa chợ, cũng đành chậc lưỡi mua « cho xong chuyện » với ý nghĩ sẽ « cạch đến già ». Nhưng cũng có những khách hàng không chấp nhận bị lừa và quyết « chống trả ». Gặp phải những người « đáo để » như thế, những gian thương thường cũng biết « tìm đường rút lui », để giành công sức cho những « con gà » khác dễ « xơi » hơn. Nhưng cũng có trường hợp dẫn đến xô xát và nghe nói có cả án mạng chỉ vì chuyện không « thuận mua, vừa bán ». Tuy nhiên, trong bối cảnh « gạo châu củi quế » như thế, vẫn có những người (tất nhiên không thể nhiều) buôn bán lương thiện, quyết lấy chữ tín làm lãi. Những người thiện thương luôn dùng những chiếc cân đúng tiêu chuẩn (quốc gia hoặc quốc tế), sẵn lòng chiều khách trong việc cân đo hàng hóa và luôn vui vẻ để khách tùy ý quyết định. Những cửa hàng như thế thường lặng lẽ nhưng tấp nập, lời mời chào (nếu có) luôn nhã nhặn, ôn tồn và tuyệt không có lời chèo kéo hay to tiếng.

Việc cân đo hàng hóa (những vật có thể sờ mó được) còn tế nhị và nan giải đến thế thì việc cân đo công lý - phán xét đúng-sai, thật-giả, chắc chắn càng không đơn giản hơn. Chưa chắc chiếc cân công lý đã được đảm bảo đúng tiêu chuẩn. Chưa chắc những người cầm cán cân công lý đã là người tôn trọng sự thật. Nhất là trong hiện trạng công lý đã khan hiếm đến độ có cả dịch vụ « chạy án » thì việc tìm được công lý sẽ phải khó khăn gấp bội. Những nài gọi, chèo kéo, tán tụng, bặm trợn cho thứ « công lý » rởm luôn huyên náo, ồn ào trong xã hội cũng là điều chẳng lạ. Nhưng Công lý đâu cần nhiều đến ngôn từ. Biểu tượng nhân cách hóa của Công lý (theo triết lý phương Tây) là một nữ thần bị bịt mắt, nét mặt bình thản, miệng khép, với một bàn tay giơ lên chiếc cân có hai đĩa ngang bằng và bàn tay kia nắm đốc kiếm. Trong các định chế tư pháp ở Việt Nam như tòa án, bộ tư pháp hay hội luật gia cũng thấy thấp thoáng hình chiếc cân hai đĩa ngang bằng. Nhưng tịnh không thấy bất kỳ dấu hiệu hay biểu tượng nào cho âm thanh phán xét, sự hả hê hay hằn học của Công lý. Khi chiếc cân là chuẩn và người cầm cân là công tâm (bịt mắt) và nghiêm cẩn (tay nắm đốc kiếm) thì chỉ cần giơ chiếc cân cho « bách gia trăm họ » « mục sở thị » là đủ biết bên nào nặng bên nào nhẹ, bên nào đúng bên nào sai, đâu là sự thật đâu là giả dối. Còn khi cân đã không chuẩn và người cầm cân chỉ là đệ tử của phường danh lợi thì mọi lời tán dương kẻ cầm cân hay bài bác nạn nhân, có dụng công đến mấy, cũng chỉ làm cho sự gian trá thêm phần lố bịch. Huống hồ khi chưa ai được quyền phán quyết mà các màn phụ họa tán dương và bài bác đã ầm ĩ thì thật khôi hài.

Một nhà nước biết tôn trọng pháp luật không bao giờ hằn học khi bất lực với nghi can và càng không bao giờ tỏ vẻ hả hê khi có được lời thú tội. Nếu không chứng minh được nghi can có tội có nghĩa là đã có một công dân chắc chắn biết tuân thủ pháp luật. Còn nếu chứng minh được nghi can có tội có nghĩa là hệ thống pháp luật đã bị coi thường. Vậy tại sao phải hằn học khi pháp luật được tuân thủ và hả hê khi pháp luật bị coi thường? Và ngay lời thú tội của nghi can (nếu là sự thật) cũng không có giá trị quyết định cho việc kết tội . Một nhà nước biết yêu quí công lý chỉ nên chú tâm để đảm bảo có một cán cân công lý hợp chuẩn quốc tế (hệ thống pháp luật minh bạch, phù hợp với các công ước, thông lệ có tính phổ quát toàn cầu) và đảm bảo có những người cầm cán cân công lý thật công tâm (không bị ảnh hưởng, chi phối bởi quan điểm chính trị, phe nhóm lợi ích, tôn giáo hay sắc tộc) và nghiêm cẩn (nguyện bảo vệ hiến pháp và pháp luật đến cùng). Một nhà nước quang minh, chính đáng không cần những màn phô diễn, chèo kéo ầm ĩ chỉ để chứng tỏ công lý thuộc về mình. Và cả khi muốn cứu lại sự chính đáng đã mất cũng không nên làm như thế. Nên để việc đó cho chiếc cân công lý. Nhưng xin nhớ Công lý không bao giờ liên quan tới đổi chác hay mua bán.


Phạm Hồng Sơn
23/08/2009

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2009

Một phiên tòa gợi nhớ một phiên tòa


Ngày 06 tháng 06 năm 1931 cảnh sát Anh tại Hồng Công đã bắt được một yếu nhân của Quốc tế Cộng sản III – một tổ chức được liệt vào hàng cực kỳ nguy hiểm tới an ninh của các thuộc địa Anh và Pháp quốc trên toàn thế giới vào lúc đó. Tuyên ngôn Cộng sản có ghi rõ « ...giai cấp vô sản sẽ là người đào mồ chôn Chủ nghĩa Tư bản...và công khai tuyên bố rằng mục đích của họ là dùng bạo lực lật đổ trật tự xã hội hiện hành. »

Người bị bắt là Tống Văn Sơ tức Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc, nhân viên cao cấp của Quốc Tế Cộng sản III được điều sang hoạt động tại vùng Đông Dương (theo hồ sơ của cơ quan mật thám Pháp). Với thân phận chỉ là người dân bản xứ của thuộc địa Pháp tại Đông Dương và lại bị sa lưới nơi đất khách quê người, cùng với số đồng chí thân cận và có khả năng hỗ trợ cho Tống Văn Sơ tại Hồng Công lúc đó chỉ đếm được trên đầu ngón tay và bản thân họ cũng phải luôn lẩn tránh sự truy lùng ráo riết của các mật thám Pháp và Anh, tính mạng của Tống Văn Sơ thực đã bị rơi vào thế ngàn cân treo sợi tóc. Chưa kể, Tống Văn Sơ lại đang là đối tượng bị truy nã án tử hình do tòa án tại Đông Dương đã tuyên vắng mặt vào năm 1929 vì những hoạt động bị cho là kích động bạo loạn. Có lẽ lúc đó, Hồ Tùng Mậu, người lĩnh trách nhiệm đi nhờ luật sư người Anh Frank Loseby để bào chữa cho Tống Văn Sơ cũng không thể hy vọng nhiều có thể giải thoát được cho Tống Văn Sơ.

Nhưng cuối cùng, như chúng ta đều biết, Tống Văn Sơ đã được tuyên là vô tội trước tòa án Hồng Công và an toàn rời Hồng Công để trở về tiếp tục con đường đấu tranh bạo lực mà ông đã theo đuổi. Tư liệu lịch sử có kể lại vụ án đã được đưa ra tòa tới chín lần, với nhiều tình tiết gay cấn, kịch tính và vô cùng khó khăn để buộc quan tòa phải tuyên Tống Văn Sơ vô tội chiểu theo pháp luật Anh quốc lúc đó và chỉ được trục xuất theo một hạn định có lợi cho Tống Văn Sơ.

Nhưng cái đáng kể trong vụ án và phiên tòa chính là các luật sư được hoàn toàn tự do tác nghiệp. Và phán quyết vô tội của tòa hoàn toàn chỉ do tài tranh biện, sự thấu hiểu pháp luật và tài ứng đối thuyết phục của luật sư trước mọi mưu toan kết tội đã có sẵn của chính quyền Anh tại Hồng Công, có sự câu kết với chính quyền Pháp tại Đông Dương. Những kẻ cầm quyền có mưu đồ xấu của cả hai chính quyền thực dân khét tiếng, cuối cùng, đã phải lắng nghe lý lẽ, đã chịu nghe ra lẽ phải và đã chấp nhận tuân thủ luật pháp, cho dù một cách khiên cưỡng. Kẻ cầm quyền của chế độ thực dân cách đây hơn ba phần tư thế kỷ đã biết hổ thẹn trước Lẽ phải và nhường bước trước Công lý.

Trở lại với hiện tại. Phiên phúc thẩm dành cho tám bị cáo Công giáo vào ngày 27 tháng Ba tới đây tại Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội – Tòa án của chính thể nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (do cựu tù nhân Tống Văn Sơ năm xưa dựng lên tại Việt Nam cách đây hơn 60 năm) liệu có chứng tỏ biết nghe lý lẽ, chịu nghe lẽ phải và biết tuân thủ pháp luật hơn chính quyền thực dân năm xưa hay không? Lẽ nào người Việt của chúng ta lại cư xử với nhau tệ hơn người ngoại chủng? Lẽ nào chế độ chính trị do chính người Việt chúng ta nắm giữ lại thô bỉ hơn chế độ thực dân? Lẽ nào?

Phạm Hồng Sơn
24/03/2009
(Ghi chú: trong bản đăng đầu tiên trên dcctvn.net ngày 24 tháng 03, đoạn cuối có 01 từ khác so với bản này (được đăng trên các web khác sau đó 1 ngày): Lẽ nào chế độ chính trị do chính người Việt chúng ta nắm giữ lại dã man hơn chế độ thực dân?)

Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2008

Một cuộc tập dượt thành công


Hai mảnh đất có giá hàng trăm triệu Đô-la Mỹ đã trở lại phục vụ cộng đồng, tám người bị kết tội, nhưng không nhận tội, đã đoàn tụ với gia đình. Đó là thành quả dễ thấy nhất từ những cuộc cầu nguyện của hàng trăm, hàng nghìn đồng bào Công giáo tại Thái Hà và Nhà Chung đã diễn ra không ngưng nghỉ suốt hàng tháng trời, giữa những đêm giá rét nhất trong lịch sử đất nước hay trong bầu khí ngột ngạt của sự khiêu khích, hăm dọa.

Thành quả này tuy vẫn còn rất khiêm tốn so với những khát khao tiến bộ của toàn xã hội hiện nay, nhưng đó là một thành quả chưa từng có nếu không tự cho là một kỳ tích trong hơn 50 năm qua trên miền Bắc và hơn 30 năm qua trên khắp mảnh đất có tên Việt Nam. Trong suốt thời gian đó và trong khắp không gian đó, chưa có một vụ án chính trị nào mà bị cáo lại xuất hiện đàng hoàng, tự tin trong vòng vây của đám đông dân chúng thể hiện công khai sự ủng hộ và cũng tự tin như thế!

Phán quyết miễn chấp hành hình phạt tù (án treo), cải tạo không giam giữ hay cảnh cáo vẫn chưa phải là công lý nhưng điều chắc chắn là song sắt nhà tù đã nằm lại phía sau. Các bị cáo, những người thân và công chúng quan tâm đã trút bỏ được nhiều ưu phiền. Và áp lực đối với người cầm quyền cũng phần nào được giảm bớt. Thật đáng tiếc khi hệ thống truyền thông của người cầm quyền vẫn chưa thoát được áp lực bắt bẻ cong sự thật hiển nhiên trong phiên tòa. Thật có lý khi nhiều người dân vẫn chưa hài lòng hoặc vẫn cảnh giác với động cơ nằm sau phán quyết sơ thẩm. Và có thể phán quyết của tòa án cũng chỉ là một quyết định khiên cưỡng của người cầm quyền. Nhưng dân chủ hóa sẽ là gì nếu không phải là một quá trình nhằm tiến đến những nhượng bộ và nhượng bộ nhiều hơn của quyền lực độc đoán, là nhằm mở ra những cơ hội cho người cầm quyền phải ưu tư hơn, đáp ứng nhiều hơn với nguyện vọng của dân chúng.

Phiên tòa sơ thẩm đã khép lại. Những người đóng vai “quan tòa” đã trở về với công việc hàng ngày. Những nhân viên công lực lại tiếp tục nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh cho xã hội. Các bị cáo đã trở lại cuộc sống đời thường. Những dư âm của xô xát, bôi nhọ, hăm dọa đồng bào Công giáo đang lùi xa vào dĩ vãng. Nhưng hình ảnh đoàn người cùng tám người vừa bị kết tội hân hoan trở về trên con đường lớn được đảm bảo an toàn bởi hai hàng cảnh sát với khí tài lủng lẳng trên người, với những khuôn mặt nghiêm trang, đúng mực sẽ mãi còn là một hình ảnh đẹp cho dân tộc Việt.

Đó là một hình ảnh khó tin nếu ai không được chứng kiến tận mắt. Nhưng đó đã là sự thật. Sự thật cho thấy hòa bình và trân trọng nhau trong sự bất đồng là một điều có thật. Sự thật cho thấy cách mạng không nhất thiết phải đi kèm bạo lực. Sự thật cho thấy nỗi ám ảnh “đa nguyên đa đảng sẽ gây rối loạn” là rất thiếu căn cứ. Như thế, những thành quả đã đạt được cho đến nay trong vụ Thái Hà, Khâm sứ có thể coi là một cuộc tập dượt thành công cho cả người dân và người cầm quyền. Xin nghiêng mình chúc mừng những đồng bào, bè bạn đã góp phần trực tiếp cho một thành công của toàn xã hội!

Phạm Hồng Sơn
09/12/2008 (Một ngày sau phiên sơ thẩm xử tám bị cáo Công giáo Thái Hà-Khâm Sứ)

Lời cầu chúc trước phiên tòa ngày 08/12/2008


Trước khi có những cuộc cầu nguyện của người Công giáo kéo dài hàng tháng trời, người Hà Nội mơ mộng nhất cũng không bao giờ dám nghĩ đến hai khu đất lớn tại Thái Hà và phố Nhà Chung nằm giữa thủ đô lại được chuyển thành vườn hoa công cộng.

Trong khi giá nhà đất của Hà Nội đang được xếp vào loại đắt nhất thế giới và quyền lực Nhà nước vẫn tỏ ra bất lực trước việc các “công bộc” lạm dụng nhà công vụ hoặc cả gan bẻ cong cả một con đường dân sinh thì động lực làm cho hai khu đất “vàng” trên trở thành công viên thật đáng khâm phục.

Bất luận thế nào, những người đóng góp vào động lực đó đã giúp cho quyền lực Nhà nước tìm lại được uy quyền (cần có) trước các thế lực núp bóng Nhà nước nhằm trục lợi hai mảnh đất trên đây. Những người đã tham gia cầu nguyện chắc chắn cũng không có mong ước gì hơn là hai mảnh đất trên phải được sử dụng vì lợi ích cộng đồng. Điều suy đoán này đã được minh chứng bằng việc các cuộc cầu nguyện đã tự chấm dứt khi hai mảnh đất trên đã được chuyển thành nơi vui chơi cho tất cả mọi người dân.

Uy quyền của Nhà nước có thể đã được định hình ngay khi thiết lập hoặc cũng có thể được bồi tạo hoặc sói mòn trong khi vận hành. Một cách thẳng thắn, những căng thẳng không đáng có như xô xát giữa người cầu nguyện và nhân viên công lực, những chiến dịch bôi nhọ, hăm dọa, tấn công bằng truyền thông hay con người đối với cộng đồng Công giáo đều là những sói mòn lớn cho uy quyền Nhà nước và uy tín của người cầm quyền. Nhưng quyết định chuyển hai khu đất thành công viên là một quyết định có thể khởi tạo lại những uy tín bù đắp cho những sói mòn đã mất nếu những người có quyền (với tư cách là một bộ máy) dám vượt qua sự băn khoăn cá nhân để quyết định thêm một bước nữa là ghi nhận công lao những người đã kiên trì cầu nguyện hay đã góp công sức để dỡ bỏ bức tường cần phải phá bỏ cho việc xây dựng công viên được diễn ra như chính quyền đã tiến hành.

Những người cầu nguyện và góp công sức đó có thể hàng trăm hàng ngìn người, nhưng trước hết cần ghi nhận tám người đầu tiên: Chị Nguyễn Thị Nhi, Chị Ngô Thị Dung, Chị Nguyễn Thị Việt, Chị Lê Thị Hợi, Anh Lê Quang Kiện, Anh Phạm Chí Năng, Anh Nguyễn Đắc Hùng, Anh Thái Thanh Hải.

Thực tế đã rõ ràng là chừng nào hai công viên Thái Hà và Hàng Trống còn là vườn hoa công cộng thì hình ảnh của tám người kể trên cũng đã trở thành một phần trong sự biết ơn của nhân dân sở tại hoặc những du khách hàng ngày tới công viên du ngoạn. Do đó việc Nhà nước chối bỏ hay quên lãng công lao của tám công dân trên đây không thể phù hợp với uy quyền của một Nhà nước chính nghĩa. Trong khi sự ghi nhận trong trường hợp này chỉ cần một hành động rất khiêm tốn và đơn giản là phán quyết “ Vô Tội” cho cả tám công dân nói trên vào phiên tòa ngày 08/12/2008 sắp tới. Phán quyết này chắc chắn sẽ xóa tan mọi căng thẳng không đáng có giữa bộ máy Nhà nước đang cần sự ủng hộ của dân chúng và cộng đồng Công giáo hơn sáu triệu người, sẽ mở ra nhiều niềm hân hoan cho xã hội. Phán quyết đó cũng hoàn toàn đúng đắn về phương diện pháp luật!

Trong trường hợp ngược lại, khi tòa án vẫn cố cáo buộc tám công dân trên như cáo trạng đã viết thì đó là một quyết định không chỉ làm vô giá trị quyết định chuyển thành công viên mà còn là một quyết định cực kỳ lạc thời, vì có biết bao linh hồn đang yên nghỉ trong nghĩa trang Mai Dịch hay nghĩa trang Thủ Đức cũng đã từng bị kết tội “Gây rối trật tự công cộng” hay “Hủy hoại tài sản”. Vậy xin chân thành cầu chúc để linh hồn các bậc tiền nhân không bị khuấy động trong ngày 08/12/2008 tới đây.

Phạm Hồng Sơn
06/12/2008