Hiển thị các bài đăng có nhãn Dân chủ giả hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dân chủ giả hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2018

Tòa án phản động: Tẩy chay


Phạm Hồng Sơn




Trong suốt thời gian hơn nửa thế kỷ đó, dưới chế độ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dựng lên và kìm giữ, có vô số phiên tòa tương tự đã được mở ra để xét xử những người bị gọi hay được gọi là “phản động” với những tội trạng khác nhau, với những phán quyết khác nhau, và với những kết cục đau thương khác nhau dội xuống cuộc đời các bị cáo cùng gia đình của họ. Hình thức và các thủ tục tố tụng của các phiên tòa đó cũng đã thay đổi nhiều. ĐCSVN đã biết làm cho các “phiên tòa” trở nên hấp dẫn hơn, thu hút hơn và “cởi mở” hơn bằng gia giảm nhiều chi tiết: sự hiện diện đôi khi rất hùng hậu của luật sư bên bị, sự tham dự của giới ngoại giao quốc tế qua màn hình, sắp xếp lại ghế ngồi trong phòng xử, bãi bỏ khung hình móng ngựa, thậm chí các bài bào chữa không kém hùng biện cũng cho vang lên ngay tại tòa,…

Nhưng một đặc điểm không hề thay đổi: tất cả những nhân vật chủ chốt thực hiện quá trình tố tụng, kể cả thẩm phán-quan tòa, đều là thành viên của ĐCSVN; và các bản án luôn triệt hạ các mầm mống tiến bộ, lương thiện của dân tộc. Dưới chế độ độc đảng độc tài toàn trị kéo dài, người ta thường coi đó là một điều hiển nhiên, không cần cật vấn.

Nhưng, nếu chúng ta chấp nhận gọi những phiên xét xử người bất đồng chính kiến là một “tòa án” – với ý nghĩa là nơi phân định công lý, đúng-sai, chúng ta cần  đặt lại vấn đề đối với các “tòa án” này.

Dù muốn hay không, tất cả những người đã bị đảng cộng sản liệt vào dạng “phản động” đều là những người có tư tưởng hoặc hành động đối lập, chống lại đảng cộng sản. Nói cách khác, các phiên xét xử những người bất đồng chính kiến là các cuộc phân định đúng-sai về bất hòa, xung đột giữa hai bên: một bên là đảng cộng sản và bên kia là những cá nhân, những tổ chức, hội đoàn đối lập với đảng cộng sản.

Từ góc nhìn này chúng ta thấy ngay điều kiện tiên khởi để các phiên xử án có khả năng, chỉ là có khả năng, đạt được mục tiêu tối hậu định rõ sự thật, đúng-sai, tòa án đó bắt buộc phải được điều khiển bởi những người không có những lợi ích, ràng buộc với cả hai bên: ĐCSVN, những người bị cáo buộc.

Thế nhưng, cho đến nay, tất cả các “thẩm phán” trong các phiên tòa xử người bất đồng chính kiến luôn là đảng viên ĐCSVN. Không chỉ “thẩm phán”, các “kiểm sát viên” – người buộc tội bị cáo - và các thành phần liên đới khác trong tổ chức của phiên tòa, như “thư ký tòa án” hay các “hội thẩm viên nhân dân”, thậm chí người dự khán, đều là đảng viên ĐCSVN hoặc là người được chọn lựa kỹ càng bởi ĐCSVN.

Tính chất giễu cợt, phỉ báng công lý, công luận của những “phiên tòa” đó đã được giấu bớt đi bởi những thủ tục, tên gọi phức tạp và hình thức của một chế định văn minh của loài người.

Nhưng chúng ta sẽ thấy ngay sự khốn nạn, chua cay khi một kẻ lừa đảo luôn đóng vai trò tổ chức trong việc phán định công lý cho nạn nhân.

Song, chúng ta càng chua cay bao nhiêu, kẻ lừa đảo càng hí hửng, mừng rỡ bấy nhiêu.

Chấm dứt sự khốn nạn của quân lừa đảo có thể cần phải nhiều thời gian, nhiều nỗ lực hơn nữa. Nhưng chúng ta có thể chấm dứt ngay nỗi chua cay của chúng ta, chấm dứt ngay sự hí hửng, hả hê của quân lừa đảo bằng cách: dứt khoát tẩy chay những “phiên tòa” do chính quân lừa đảo dựng lên. ⃝



*Đính chính: tên của nhà hoạt động nhân quyền Huỳnh Thục Vy ban đầu đã bị viết sai là Huỳnh Thục Vi. Xin cáo lỗi chị Huỳnh Thục Vy và độc giả. (09:20 CET 15/11/2018)

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2017

Lá cờ ấy không đáng bị xa lánh

Phạm Hồng Sơn

Lại vừa xảy ra một cuộc tranh cãi gay gắt về lá cờ vàng ba sọc đỏ – cờ của chính thể quá cố Việt Nam Cộng Hòa. Lần này cuộc tranh cãi liên quan tới ca sỹ Mai Khôi, một nghệ sỹ trẻ đã có một số biểu hiện cổ xướng, đứng về phía tự do, dân chủ, nhân quyền.




Tranh cãi, tranh luận là một điều kiện cơ bản để con người tìm ra chân lý, hiểu được sự thật. Nhưng tranh luận về lá cờ vàng hiện nay có hai trở ngại chính. Thứ nhất, chế độ đương quyền tại Việt Nam vẫn là một chế độ độc tài bất dung khác biệt chính trị và bất dung mọi thứ có thể tổn hại tới sự độc quyền quyền lực của nó. Thứ hai, lá cờ vàng là lá cờ của một chính thể là đối thủ của, và đã thua, chế độ đương quyền Việt Nam trong cuộc nội chiến 1954-1975.

Trở ngại thứ nhất đưa tới những hệ quả cơ bản: các thông tin xác thực về cờ vàng cùng chính thể song hành vẫn bị ngăn chặn/bóp méo/cắt xén khiến cho nhiều người hiểu sai về cờ vàng; những người còn sợ độc tài/còn muốn dựa dẫm, hưởng lộc độc tài không thể/không dám/không muốn bày tỏ thái độ khách quan/đúng mực về cờ vàng.

Trở ngại thứ hai dễ đưa tới hai xúc cảm thái quá trái ngược nhau: hoặc quá nuối tiếc, quá thương cảm một cái đã mất thành ra tình cảm ủng hộ quá mạnh; hoặc quá thiếu thiện cảm, quá khinh miệt vì coi đó thuộc về bên thất bại, cùng với sự thu nhận thông tin bị cắt xén/bóp méo, thành ra xúc cảm dị ứng quá lớn. Hai xúc cảm này đều dễ đưa tới những trao đổi thiếu kiềm chế, miệt thị, xúc phạm nhau quá mạnh – những điều không lợi cho xác định lẽ phải, dễ đưa tới các chia rẽ, đổ vỡ.

Nhưng tranh luận sẽ bế tắc và gần như vô ích nếu một bên thuộc nhóm người thứ hai trong hệ lụy của trở ngại thứ nhất kể trên. Mọi lý lẽ, bằng cớ khách quan, xác thực, và ôn tồn đến đâu, chắc chắn sẽ không thể thuyết phục được những người này công khai nhìn nhận/ủng hộ sự thật/điều đúng chừng nào họ vẫn chưa thoát được nỗi sợ/qui phục độc tài. Đơn giản hơn, để thấy lý lẽ, thật đáng quí, nhưng nhiều khi vô ích: Hồ Chí Minh không bao giờ công nhận Việt Cách hay Việt Quốc là những tổ chức chính nghĩa, ái quốc có quyền bình đẳng trong việc tham chính trị nước; rất khó, nếu không phải bất khả, kỳ vọng Nguyễn Phú Trọng và đảng của ông đưa ra cương lĩnh “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nghịch lý, dối trá”.

Trong một số bài viết của tôi, và nhiều bài viết của người khác, đã chứng minh chính thể quá cố Việt Nam Cộng Hòa, cùng những biểu tượng liên quan, đáng được trân trọng. Sự trân trọng này không dựa trên tình cảm yêu-ghét, thân-sơ, mà dựa trên so sánh về mức độ văn minh-man dã, tự do-nô lệ, dân chủ-độc tài, bao dung-hẹp hòi, nhân bản-phi nhân và ái quốc-phản quốc. Cố nhiên, chính thể Việt Nam Cộng Hòa đã thua, đã chết. Đó là một sự thật không thể nói khác. Nhưng xét đúng-sai, tốt-xấu, thiện-ác không thể dựa trên thắng-thua, được-mất. Lịch sử nhân loại và lịch sử Việt Nam đã từng xảy ra rất nhiều biến cố trong đó cái Thiện, cái tiến bộ bị thất bại, bị tiêu diệt; cái Ác, cái man khai hơn đã ngạo nghễ chiến thắng, thống trị trong một thời gian, đôi khi khá dài. Nhưng không vì thế mà nhân loại tiến bộ lãng quên, xa lánh, xúc xiểm Socrates, Thomas More, Bruno, Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, Pétrus Ký, Cộng Hòa La Mã hay thành-bang dân chủ A Ten. Ngoài ra, nếu tìm hiểu kỹ lưỡng hơn về lịch sử cuộc nội chiến Việt Nam 54-75, tôi tin tưởng chúng ta sẽ biết nhiều hơn và hiểu hơn các nguyên nhân đã đưa tới thất bại của Việt Nam Cộng Hòa – theo tôi, cũng là thất bại chung của mọi người Việt Nam muốn có chung một Tổ quốc tự do, nhân bản và lành mạnh.

Trong cuộc tranh luận đang nói, và những cuộc tranh luận tương tự, còn cho thấy có một thái độ khác, ẩn tính hơn, nhưng rất đáng bàn. Đó là thái độ tỏ ra trung lập, không ủng hộ lá cờ nào của hai chính thể đối nghịch, cộng sản hay cộng hòa. Thái độ này thường cơ bản tự lấy cơ sở dựa trên quyền tự do bày tỏ (freedom of expression) hay tự do ngôn luận (freedom of speech) để khéo léo ủng hộ  quan điểm/thái độ xa lánh, miệt thị cờ vàng.

Thoạt nhìn thái độ trung lập này rất có lý, vì dựa vào các nhân quyền cơ bản đang là vấn đề thời thượng. Nhưng nhìn kỹ chúng ta sẽ thấy thái độ trung lập này không ổn, hoặc là ngộ nhận hoặc là ngụy biện cho một ẩn đích nào đó. Bởi, thứ nhất, trong những cuộc tranh luận chúng ta đang nói tới, không có bên nào đàn áp tự do bày tỏ/ngôn luận của bên nào, chỉ thuần túy hai bên cùng bày tỏ quan điểm trái ngược nhau, vì vậy đưa quyền tự do ra ở đây để biện hộ là lạc đề; thứ hai, vấn đề mấu chốt của cuộc tranh luận/tranh cãi là việc phải xác định cờ vàng có đáng được trân trọng hay đáng bị miệt thị thì thái độ trung lập này không hề đề cập.

Thái độ trung lập này còn đưa thêm những lý lẽ phụ khác như “chỉ quan tâm tới nhân quyền và tự do chứ không quan tâm tới chính trị/chính quyền/cờ quạt”; hoặc viện dẫn lịch sử nội chiến Mỹ để chứng minh “ủng hộ lá cờ nào cũng không quan trọng.”

Trong lý lẽ phụ thứ nhất vừa nói đã ẩn chứa một thái độ lẩn tránh, nếu không phải là thiếu trung thực. Vì những ai đã trải nghiệm sống tại Việt Nam từ 40 năm qua đều không thể không nhận ra hiện trạng mất nhân quyền, tự do có sự gắn bó máu thịt với chế độ chính trị/chính quyền – một biểu tượng của nó là “lá cờ quốc gia” nền đỏ sao vàng.

Lý lẽ phụ thứ hai, có vẻ sang trọng và học thuật hơn, đã tự cho thấy một tư duy so sánh/liên hệ khập khiễng, trái bối cảnh. Bởi, thứ nhất, bên chiến thắng trong nội chiến Mỹ không đàn áp, không sỉ nhục những người thuộc phía thua là “thù địch”, “bán nước”; thứ hai, bên chiến thắng đã ý thức thiết lập một chế độ dân chủ biết bao dung và bảo vệ đa nguyên chính trị, các quyền tự do căn bản, trong đó có quyền tự do bày tỏ yêu ghét cả hai lá cờ từng là đối địch. Nhưng cuộc nội chiến 54-75 tại Việt Nam không đưa tới kết quả như thế, và hệ thống đương quyền cũng không cho thấy muốn đưa tới những kết quả như vậy. Nói cách khác, thực trạng ở Việt Nam hiện nay là tình trạng trong đó cái Ác đang thống trị, đang lấn át cái Thiện. Vì vậy, nếu thực đứng về cái Thiện và đủ hiểu biết, bản năng lương tâm con người không thể cho phép phát ra những thông điệp ‘trung lập’, thờ ơ giữa hai lá cờ, càng không thể biện luận để đánh đồng cờ vàng với cờ đỏ hay cờ đỏ cũng như cờ vàng, Thiện Ác lẫn lộn.

Nhìn lại những ngày đen tối, rùng rợn của Thế chiến II, chúng ta không khỏi lạnh mình nếu tưởng tượng những con người như Albert Einstein, Julius Robert Oppenheimer, hay Deithich Bonhoeffer cứ tỏ ra cao đạo ‘trung lập’, vờ khinh bỉ chính trị để thụ hưởng êm ấm, bổng lộc cho bản thân. Thực trạng nội chiến giành giật Ác-Thiện của Việt Nam 54-75 cũng cho thấy ‘trung lập’, dù thật hay giả, sập bẫy hay cố ý, đều đã tiếp tay cho cái Ác thống trị toàn xã hội.

Dĩ nhiên, như đã nói, vẫn có những đồng bào chỉ vì sợ hãi, vì thiếu thông tin nên chưa nhìn ra, chưa dám bảo vệ sự thật. Nhưng nếu chỉ có vậy, chúng ta có thể an tâm và hoàn toàn tin, tin vào sự chân thành, sẽ có một ngày những đồng bào đó sẽ tự tin bày tỏ lòng trân quí một lá cờ của một chính thể dân chủ, nhân bản nhất (cho tới nay) của người Việt Nam đã từng tồn tại trong lịch sử.○


*Cập nhật 11:49 AM, 18/01/2017: Trong cụm từ "...không thể thuyết phục được những người này công khai nhìn nhận/ủng hộ sự thật/điều đúng chừng nào..." chữ  "công khai" là chữ vừa được bổ sung.

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

Nhà báo Đoan Trang và “Quân lực Việt Nam Cộng hòa” (3)

Xem phần: (1), (2)

Phạm Hồng Sơn

Rắc rối đa nguyên

Chúng ta đã quá thấu vì những thảm cảnh do độc tài gây ra. Nhưng dân chủ không phải không có những phiền toái.

Vì dân chủ tôn trọng ý kiến khác biệt nên mọi cá nhân, hội nhóm, đảng phái luôn phải vất vả, xoay trở để cạnh tranh, đối phó với các cá nhân, hội nhóm, đảng phái khác đang tồn tại hoặc liên tục được sinh ra. Chính vì thế mọi xã hội dân chủ đều không có tính “bình yên”, “ổn định” như trong chính thể độc tài. Mỗi cá nhân, hội nhóm, đảng phái dù là (đang) xuất sắc nhất cũng tự biết rằng vị thế của mình chỉ là tạm thời và phút chốc có thể trở thành tầm thường - một điều không dễ chịu đối với mọi con người. Nhưng đổi lại con người trong chính thể dân chủ giữ được tư duy độc lập đồng thời không ngừng được hoàn thiện, bồi đắp thêm những giá trị, hiểu biết, do chính bản thân ngộ qua, hay học được, kết hợp được từ những cá nhân, hội đoàn khác. Và, quan trọng hơn, cùng một vấn đề luôn luôn có hơn một giải pháp, ý tưởng để lựa chọn hay dự phòng, đưa đến hệ quả tránh cho toàn xã hội, cộng đồng không bị “Xuống Hố Cả Nút”. Kẻ cầm quyền cũng được hưởng lợi: được sống một cuộc đời thật và cầm quyền với sự an tâm do chính đáng. Vì vậy, những lãnh đạo dân chủ dù cũng không thích phải cạnh tranh, họ luôn bảo vệ tính đa nguyên, chống sự độc tôn của cá nhân, hội đoàn, đảng phái.

Trong bản Luận về chính quyền (federalist) số 10 rất nổi tiếng của James Madison viết năm 1787, ông kết luận: “Chúng ta buộc phải thừa nhận rằng những NGUYÊN NHÂN GỐC RỄ của nạn bè đảng, hội nhóm là không thể loại bỏ, và cách chữa duy nhất chỉ nằm trong việc kiểm soát các TÁC ĐỘNG của chúng mà thôi.”[i] Trước đó Madison đã chứng minh muốn dẹp được sự khác biệt, bất trắc, lộn xộn nhiều khi biến thành cãi vả, ẩu đả, bạo lực của các hội nhóm, ý kiến khác biệt thì chỉ bằng cách triệt hạ hết tự do của xã hội - điều Madison không bao giờ chấp nhận.

Nhìn trên những căn bản như thế chúng ta sẽ thấy sự xuất hiện của “Quân lực VNCH”, hoặc các nhóm hội đặc biệt khác, là điều tất yếu và là một vốn quí cho xã hội. Và sự bất đồng giữa “ban tổ chức” cuộc tuần hành vì cây xanh (là một hội nhóm) với nhóm “Quân lực VNCH” cũng là điều thường tình.

Vậy vấn đề quan trọng cần xét là mục đích của hai bên và ứng xử của hai bên trong sự bất đồng đó. Về mục đích, như đã phân tích, qua thể hiện, cả hai bên đều có những mục đích (chung, riêng) đều theo hướng mang lại tiến bộ cho xã hội. Nhưng, như đã thấy, mục đích xiển dương “Việt Nam Cộng Hòa” của nhóm “Quân lực VNCH”, dù tốt cho xã hội, chưa (hoặc không) tương thích với “ban tổ chức” và hệ quả là “ban tổ chức” đã lên tiếng phản đối, bác bỏ và khẳng định độc quyền về tuần hành. Theo tôi cách ứng xử này của “ban tổ chức” không phải là lựa chọn tối ưu. Nếu chỉ nhằm đáp ứng một nhu cầu cần phải chứng tỏ “ban tổ chức” không hề liên quan với “Quân lực VNCH”, có rất nhiều cách khác đẹp hơn cách đã làm để đạt được mục đích này.

Nhưng chúng ta cũng có thể lý giải thái độ đó của “ban tổ chức” theo tâm lý học hình sự (criminal psychology). Theo thuyết này, trong hoàn cảnh bị đe dọa, người thiếu kinh nghiệm thường có phản ứng tức khắc bằng thái độ (hành động) thể hiện sự lìa xa với những đối tượng (vấn đề) mà người đó nghĩ có thể làm cho tình trạng nguy hiểm hơn. Sự “lìa xa” đó có nhiều mức độ từ thờ ơ, từ chối, bác bỏ đến ruồng rẫy, đả phá. Tuy nhiên phản ứng “lìa xa” đó không thể qua mắt được các điều tra viên hạng trung bình, đó là dấu hiệu khả tín của “cái tôi đang hoảng”, theo kiến thức thuộc loại cơ sở vừa nêu của hình sự học.

Sau khi đăng hai phần của bài viết này, tôi đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi trong đó có một luận điểm cho rằng “ban tổ chức” phải có thái độ như thế là  “nhằm mục đích tập dượt cho những người chưa quen, những người vẫn còn sợ việc xuống đường. Làm cho họ quen đã, xuống đường nhiều đã, rồi...”

Theo tôi, và phải nói thẳng, luận điểm này hoặc là ngụy biện để che chắn cho một kế hoạch nào đó hoặc là ngộ nhận, sai hoàn toàn về quan điểm vận động tiến bộ. 

Thứ nhất, vì chúng ta không thể cải thiện một xã hội độc tài bằng cách tập cho người dân xuống đường với tinh thần độc quyền, độc tài. Điều đó chỉ có thể làm thay đổi hình thức độc tài và gây rạn nứt thêm cho xã hội, không thể giúp xã hội nghiêng được sang dân chủ tự do. Chúng ta nên nhớ lại, trong các xã hội độc tài toàn trị, không phải không có các thiết chế có những cái tên như “quốc hội” (nghị viện), “tòa án”, “thẩm phán”, “mít-tinh”, “biểu tình”, “công đoàn”, “bỏ phiếu”, “báo chí” v.v. và cả “đa đảng chính trị” nữa. Tất cả những thứ đó hầu hết đều có, nhưng chỉ có điều: do một nhóm người điều khiển hoặc chỉ một số người được thực hiện mà thôi! 

Thứ hai, lập luận đó rất dễ rơi vào bẫy của nhà độc tài khi họ muốn loại sự tham gia của những cá nhân, hội đoàn không có lợi cho quyền lực độc tài của họ trong khi cho phép nhiều cá nhân, hội đoàn tham gia nhưng vô hại đối với họ. Thủ pháp này có thể gọi là đa nguyên nửa vời. Tựu chung luận điểm đó và giải pháp đó chỉ có lợi cho độc tài.


Rõ ràng, xã hội dân sự Việt Nam trong những năm qua đang sôi động, phát triển. Ý thức tự lập của người dân đã có nhiều dấu hiện cải thiện. Trong môi trường đó, tinh thần đó, dù còn nhiều khiếm khuyết và đầy thách thức, nhiều nhà hoạt động nhiệt thành, với những lứa tuổi, nghề nghiệp, xuất thân khác hẳn nhau, đã xuất hiện và đóng góp rất nhiều, bằng những cách thức mới khác hẳn, cho tiến bộ xã hội. Nhiều người có kiến thức và tài năng thật xuất sắc, cá nhân tôi hết sức khâm phục, ngưỡng mộ. Trên bước đường hoạt động còn đầy chông gai đó chắc chắn họ không thể tránh được những sai sót, thậm chí lỗi lầm, như mọi con người khác. Tôi tin, với một lý tưởng dân chủ vững vàng, họ sẽ ngày càng xuất sắc hơn qua những sai sót có thể đó. Nhưng tôi cũng tin rằng trong xã hội vẫn còn nhiều trí tuệ và tài năng xuất sắc nữa và có thể xuất sắc hơn hết thảy mọi nhà hoạt động xuất sắc đã từng xuất hiện. Nhưng vì một lý do nào đó những người đó vẫn chưa xuất hiện. Chúng ta hãy cùng lưu tâm bảo vệ, tạo cơ hội cho những con người như thế được lên tiếng và thể hiện.○



[i]     “The inference to which we are brought is, that the CAUSES of faction cannot be removed, and that relief is only to be sought in the means of controlling its EFFECTS.”

Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014

Từ chợ Đồng Xuân tới 53 Nguyễn Du

Phạm Hồng Sơn

Cùng chia sẻ một nghịch cảnh hình như khiến người ta trở nên tin cậy nhau hơn. Trước đây, khi có dịp sống trong một căn buồng kín với một số người thuộc lớp người bị gạt ra lề xã hội, tôi đã được họ bộc bạch nhiều tâm tư, trong đó có cả những ngón nghề đặc biệt. Có một anh từng hành nghề bất hảo ở chợ Đồng Xuân đã tâm sự cả những ngón cướp đồ.

Anh ta nói làm ăn trước những năm 1990, tức trước khi “đổi mới”, khó hơn bây giờ nhiều, bao giờ cũng phải có ít nhất hai người. Khi phát hiện ra “con mồi”, một người sẽ phải tiếp cận làm động tác giả để làm con mồi mất cảnh giác hoặc gây chú ý lạc hướng, còn kẻ kia sẽ ra tay hành động. Anh ta bảo, thời đó làm ăn “thu nhập” vừa hẻo, vừa rất nguy hiểm vì người dân xung quanh thường phản ứng rất mạnh, không thờ ơ như bây giờ, nhiều người sẵn sàng bỏ cả cửa hàng để đuổi bắt hoặc đón đánh kẻ hành sự.

Có những “vụ”, anh ta nói, phải thêm tiết mục giúp người bị nạn. Đấy là sau khi đồng bọn giật đồ rồi thì các đồng bọn khác phải xúm ngay đến hỏi thăm nạn nhân hoặc cùng hô hoán, tỏ vẻ bức xúc, chia sẻ, vỗ về nạn nhân thậm chí cùng lao đi đuổi bắt nhưng kỳ thực là nhằm cản đường, che chắn cho đồng bọn, khống chế, xoa dịu nạn nhân và cả những người muốn giúp đỡ thực sự, không để cho đồng bọn bị tóm hay bị nện. Anh ta bảo tiết mục giúp đỡ đó đôi khi cũng phiền phức và chả thú vị gì vì nhiều lần lại làm cho dân chúng đến đông quá và có khi lại phải ở lại lâu hơn để nhận lời cảm ơn và hầu chuyện, trong khi thực bụng chỉ muốn biến cho nhanh. Những nhân vật vào vai “giúp đỡ” thường phải diện quần áo và bộ dạng càng nghiêm chỉnh càng tốt và có cả phương án, nếu người dân bắt được kẻ hành sự thì phải xúm ngay vào “bắt cùng” để đánh tháo, kể cả việc phải xuống tay ngay với những ai có thực tâm bắt giữ đồng bọn.

Thực ra câu chuyện lưu manh vặt trên đây không xa lạ với nhiều người. Nhưng câu chuyện này có một chi tiết đáng nói về sinh học. Cơ thể con người bình thường khi gặp một sự cố bất ưng, hiểm nguy, bị xúc phạm, bị đe dọa, bị chấn thương, nồng độ chất Adrenaline trong máu tự động tăng lên rất nhanh. Chất Adrenaline có tác dụng làm tăng chuyển hóa, tăng nhịp tim, nhịp thở,… nói chung là giúp cơ thể gia tăng khả năng chịu đựng, làm mạnh thêm dũng khí, sự táo bạo, tính quyết đoán. Vì vậy đã có trường hợp người ta cần làm cho một người bị chấn thương nặng sống sót bằng cách làm người đó tức bực lên để gia tăng Adrenaline hầu giúp người bị nạn chịu được đau đớn, nếu không sẽ có khả năng bị chết vì sốc do đau trước khi tới được nơi cấp cứu.

Quay lại câu chuyện giang hồ kể trên. Trò giúp đỡ, xoa dịu của mấy anh thảo khấu đó có một tác dụng ngược với trường hợp cứu người bị chấn thương vừa kể, tức làm giảm Adrenaline – đối tượng tự nhiên sẽ trở nên hòa hoãn, an tâm hơn tức nhụt khí đi một cách tự nhiên – rất có lợi cho kẻ bất hảo.

Nhìn vào vấn đề Trung Cộng xâm lấn trong vài năm qua, chúng ta có thể thấy chính quyền Việt Nam cũng làm nhiều việc “giúp đỡ” như câu chuyện kể trên. Họ đã cho tổ chức nhiều hoạt động, rất đa dạng, từ trong nước ra ngoài nước, từ hội thảo, triển lãm, thành lập chính quyền cho Hoàng Sa, kêu gọi đóng góp “sỏi đá”, lập quĩ cho tới việc hỏi thăm ngư dân, lên án Trung Cộng hay thậm chí chuẩn bị kiện Trung Cộng, v.v. Nhưng điều cốt lõi nhất là phải tôn trọng quyền dân, thay đổi nền chính trị theo hướng phi độc tài – những yếu tố nền tảng bậc nhất để chống Trung Cộng trước mắt cũng như lâu dài – thì chưa bao giờ chính quyền này tỏ ra muốn thực hiện, tương tự như mấy anh giang hồ đóng kịch kể trên, họ chỉ nhằm mục đích đánh lạc hướng, xoa dịu dư luận, ngăn chặn người công chính và (vô hình chung) làm giảm Adrenaline của xã hội.

Tọa đàm “Làm sao để thoát Trung” [i]ngày 05/06/2014 tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, 53 Nguyễn Du, Hà Nội, theo tôi, cũng thuộc một dạng hoạt động giống như tiết mục “giúp đỡ” kể trên.

Cách đây không lâu, tôi có tiếp xúc với một số anh em làm trong ngành công an và quân đội ở cấp không cao lắm, nhưng không một ai mơ hồ về ác tâm của Trung Cộng, chỉ có điều mọi người tỏ ra bế tắc và chán nản, rồi nói “Thôi im đi cho nó lành, anh ạ!”

Như vậy, tôi tin rằng vấn đề phải rời xa Trung Cộng không còn là vấn đề khó nhận ra hay còn khó về mặt lý luận nữa. Thực tế cuộc sống đường phố hàng ngày cũng quá đủ để cho những người như các bà nội trợ, các chị osin đều trả lời: Phải thoát Trung Cộng!

Còn cách thoát sự kiểm soát, ảnh hưởng xấu của Trung Cộng, đây là vấn đề phức tạp hơn, cũng không phải quá khó để tìm ra những giải pháp tối ưu nếu bất cứ ai muốn thoát thực sự. Dĩ nhiên, các hoạt động nghiên cứu, lý luận và các sự kiện nhằm duy trì, gia tăng chú ý của công luận luôn luôn cần thiết. Nhưng trong bối cảnh hiện tại, một hoạt động nhằm mục đích “thoát Trung” mà lại được thực hiện ngay trong khuôn khổ kiểm soát, từ địa điểm cho tới sự bảo trợ, của chính “người bạn vàng” của Trung Cộng, và lại được khai mạc bởi quí ông “lạc quan vô tận”, thì sao có thể có động cơ ngay chính được, nói gì đến việc thoát khỏi Trung hay Cộng.

Viết đến đây tôi lại nhớ đến vết thương trên đầu của Luật sư Nguyễn Văn Đài vẫn còn chưa mọc đủ tóc và vết thương phẫu thuật đầu gối của chị Trần Thị Nga vẫn chưa cắt chỉ, với các vết đụng dập tím bầm. Và còn bao người khác suốt Trung Nam Bắc vẫn đang bị rình rập ngày đêm hoặc ăn đòn bất cứ lúc nào. Lý do?  Nói lại thì đau lòng thêm. Nhưng cần phải nhớ lại những cú đánh đó đã diễn ra ngay tại Hà Nội, chỉ cách số nhà 53 Nguyễn Du không xa lắm và không phải do bàn tay của người Tàu. Những đòn thù đó diễn ra ngay lúc cả cái tổ hợp giàn khoan khổng lồ của Trung Cộng đang chễm chệ khuấy đảo biển Việt Nam.

Tôi có cảm tưởng một số những nhà hoạt động xã hội hiện nay cả tin đến mức như những chú chim hồn nhiên mới bị nhốt vào một ngôi nhà lớn, cứ thấy vệt sáng “dân chủ”, “nhân quyền”, “Hoàng Sa”, “Trường Sa”, “thoát Trung”,… là lao tới, không biết đó là khung trời thật hay chỉ là bầu trời vẽ, khung kính cửa sổ hay một lối thoát dẫn sang một cái lồng khác.

Nhưng đó chưa hẳn là những hệ lụy thâm sâu nhất.

Vào cuối câu chuyện trong buồng kể trên, anh giang hồ cho biết sau này người dân cũng nhận ra những trò đóng kịch “giúp đỡ” đó, nhưng lạ là người dân cứ dần dần lảng tránh rồi thờ ơ trước những tiếng kêu “Ối, cướp, cướp!”. Anh ta bảo, sau năm 1990, phần vì công an kém “hăng” hơn trước, chỉ những gì có “màu”, nhiều “màu” thì họ mới để tâm, phần vì dân “sợ bị lẫn với chúng tôi” hoặc “lớ xớ quá là chúng tôi ục cho bỏ mẹ!”. Cả căn buồng lặng băng.

Khi lòng tốt của con người bị hắt hủi, nghi ngờ hay lừa gạt người ta đều cảm thấy nhói lên trong lòng. Trọng Lang, tác giả của thiên phóng sự đặc sắc Hà Nội lầm than vào những năm 30 của thế kỷ trước, cũng đã trải nghiệm cảm xúc này. Một lần ra chợ Đồng Xuân, Trọng Lang gặp hai đứa trẻ lang thang:

“Chúng nhướng lông mày lên, chớp mắt rất thong thả, rồi thở dài; chỉ trong một giây đồng hồ, cái đói âm thầm hiện dưới những nét đau đớn, ngây thơ…

Tôi lại gần chúng nó, để vào tay thằng bé lớn nhất một hào bạc:

-         Các em đói?

Nó mỉm cười như đứng trước cái kẹo của một thày đội cảnh sát, nhìn đồng hào mà nói:

-         Bịa!

Cả hai đứa nắm tay nhau, âu yếm nhìn nhau, rồi âu yếm quàng vai rắt nhau quay đi.

Thằng bé nhất còn quái cổ nói với tôi rằng:

-         Bác đùa làm gì thế?

Tôi hiểu lắm: cũng như con chó bị đòn nhiều quá đều ngờ vực sự vuốt ve, âu yếm, chúng nó hai con “người ngay” ấy, sợ cả đến tấm lòng tử tế của loài người.” (sic)[ii]

Dân Việt suốt từ năm 1945 đến nay cũng đã phải “ăn đòn” không ít, từ Cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm, rồi Bù giá vào lương, Cải tạo công thương, Z30,…, đã gặp phải quá nhiều đồ giả, từ giả bằng, giả người, giả lời, giả quốc hội, giả tòa án, giả yêu nước..., và đang bị tràn ngập hàng giả, hàng nhái Made in China, không, đã thành Made in PRC rồi[iii]. Nhưng, những dấu hiệu như tọa đàm trên đây cho thấy dân ta chưa hẳn đã có sự thận trọng cần thiết như hai đứa trẻ của Trọng Lang.

Và một điều khác cũng không kém phần đáng sợ: niềm tin ít ỏi vào cái thật, người thật của chúng ta có thể sẽ cạn, những nhà hoạt động nghiêm túc có năng lực có uy tín của chúng ta vốn đã hiếm có thể sẽ không còn.○





[i] Có thể xem thêm một số tường thuật khác về tọa đàm này: (1), (2) nhưng đã bị xóa, xin xem ở đây.
[ii] Trọng Lang, Trong làng “chạy”, báo Ngày Nay, năm 1935, trích lại trong Phóng sự Việt Nam 1932-1945, Tập 3, Nxb Văn học, 2000, tr.553-554.
[iii] PRC viết tắt của People’s Republic of China – Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nhiều sản phẩm sản xuất ở Trung Cộng đã dùng chữ Made in PRC thay cho Made in China.

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

Công lý không cần quị lụy

Phạm Hồng Sơn

Từ trước tới nay chưa thấy một viên công an nào, kể cả cấp tướng, đứng trước tòa (hình sự) mà lại giữ được lấy một phần triệu chất hách thường có khi gặp dân thường. Đoạn clip do Tuổi Trẻ* ghi lại một khúc trong phiên tòa xử vụ đại tá công an, cục phó một Cục của Bộ Công An Dương Tự Trọng với một loạt các công an cấp tá khác cũng không cho thấy điều gì khác. Đó cũng không nằm ngoài qui luật muôn đời, đã hay nạt dưới thì không thể có khí tiết khi gặp kẻ trên.

Điều đáng nói là thái độ của các luật sư thể hiện trong đoạn clip đó rất đáng buồn. Các luật sư đều tỏ một thái độ quá từ tốn đến mức nhún nhường, quị lụy trước hội đồng xét xử. Mỗi phát ngôn của luật sư đều được rào, bọc bằng những chữ “xin phép hội đồng xét xử”, “cảm ơn hội đồng xét xử” với khẩu khí, tư thế rất rụt rè, thương hại. Ngay cả khi “hội đồng xét xử” xâm phạm cắt ngang một cách thô kệch dòng trình bày những chi tiết quan trọng từ nhân chứng, bị cáo cũng không thấy một luật sư nào dám thể hiện sự cự lại.

Đã đành, chốn pháp đình là nơi cần sự nghiêm túc, trịnh trọng hơn bình thường. Đã đành, người văn minh cần phải thể hiện thái độ tôn trọng người điều dẫn một phiên tranh tụng, phân định công lý. Nhưng luật sư, trong ý nghĩa tối cao là tham gia tố tụng để góp phần tìm ra sự thật, xác định đúng-sai, cũng có vai trò bình đẳng hoàn toàn với chủ tọa phiên tòa (hội đồng xét xử) và mọi thành phần tham gia tố tụng khác, chưa nói đến tinh thần nghiêm khắc của luật sư đối với hội đồng xét xử cũng là điều rất cần phải có nếu muốn sự thật không bị vùi dập.

Làm sao có thể kỳ vọng có Công lý khi giới luật sư ngay trong một phiên tòa công khai vẫn sợ hoặc vẫn buộc phải sợ một hội đồng xét xử?

Công lý cần sự nghiêm túc, thẳng thắn chứ không bao giờ cần sự quị lụy, xin xỏ.○


* Cập nhật lúc 00:50 (giờ Hà nội) ngày 09/01/2013: Clip này đã không còn trên Tuổi Trẻ. Quí vị có thể xem một clip khác tương tự tại đây hoặc nghe tạm một số âm thanh lời khai của ông Dương Chí Dũng với tư cách nhân chứng tại đây. (Lưu ý: Những clip này đều có thể lại bị biến mất như clip củaTuổi Trẻ.)




Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013

Coi chừng phát đạn ngược của hiến pháp



Trong lịch sử phát triển và hoàn thiện thể chế dân chủ (democracy) của nhân loại, những nước đi sau thường bao giờ cũng được hưởng lợi nhiều hơn khi đã nhìn thấy rõ những thiết chế (institution) cơ bản của dân chủ như cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp, các đảng phái chính trị hay hiến pháp…Nhưng điều đó không có nghĩa những nước đi sau hoàn toàn có thể dễ dàng xây dựng được ngay các thể chế dân chủ thành tâm và vững vàng như Thụy Điển, Na uy, Hoa Kỳ, Đức, Australia, Pháp,…Bởi, phía sau các thiết chế quen thuộc và dễ mô tả đó là cả một nền văn hóa dân chủ cùng nhiều thiết chế dân chủ thiết yếu khác đã được công phu tạo dựng và bồi đắp qua nhiều thế hệ. Đấy là chưa nói đến những nan giải do những kẻ độc tài của thời đại dân chủ luôn tạo ra các loại dân chủ giả hiệu, giả hình để đánh lừa dân chúng. Những kẻ độc tài có thể rất kém trong việc kinh bang tế thế cho quốc gia, dân tộc, nhưng chúng ta đừng quên nghề của họ là làm cho quyền lực độc đoán sống lâu và sống đẹp – đẹp về hình thức.
Dư luận Việt Nam đang sôi nổi sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam lại đưa ra kế hoạch cải cách hiến pháp. Lần này đa phần giới trí thức có tiếng, gần gũi với Đảng đang hưởng ứng kế hoạch đó với những kiến nghị và vận động theo hướng thiết lập một nền dân chủ có hình thức như ở phương Tây với một yêu cầu gần như thống nhất là hiến pháp lần này phải được trưng cầu ý dân (referendum). Nhưng dư luận cũng có ý kiến ngược lại. Như Cây Tre Việt Nam trân trọng giới thiệu một ý kiến ngược lại và đang thuộc về thiểu số đó:


Bao nhiêu ý dân thì đủ?
Tháng 2 22, 2013
Phạm Thị Hoài

Từ khi tôi trở thành công dân Đức, Hiến pháp Đức đã có 10 bổ sung, sửa đổi mà tôi không hề được hỏi ý kiến. Nhưng không chỉ riêng tôi. Hàng xóm, bạn bè, người quen, đồng nghiệp, tất cả đều như vậy. Nhân dân CHLB Đức chưa bao giờ được trưng cầu ý kiến về văn bản tối thượng mang tên Grundgesetz (Luật Cơ bản) của mình.

Nó được soạn thảo bởi 65 vị trong Parlamentarischer Rat (Hội đồng Nghị viện), dưới sự ủy nhiệm và kèm cặp của chính quyền quân quản Anh, Pháp và Mỹ sau Thế chiến II. Sau khi được thông qua với 53 phiếu thuận và 12 phiếu chống trong Hội đồng Nghị viện, nó được trình cho ba chính quyền Đồng minh nêu trên xét duyệt. Sau khi được các Thống đốc Quân sự Anh, Pháp, Mỹ chấp nhận, nó được gửi đến các nghị viện tiểu bang để phê chuẩn. Sau khi được phê chuẩn, ngày 23-5-1949 nó được Hội đồng Nghị viện chính thức tuyên bố là văn bản lập quốc. Nước Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức cũ) ra đời với bản Hiến pháp ấy. Người dân – bốn năm trước còn sống trong Đế chế Quốc xã với Quốc trưởng Hitler – không trực tiếp, nếu không muốn nói là không tham dự vào quy trình lập hiến đó. Bản hiến pháp được coi là hoàn hảo nhất trong lịch sử nước Đức ấy không do ý nguyện dân chủ từ dưới lên sinh ra, mà do ý chí chính trị từ trên xuống, thậm chí với áp đặt từ các thế lực ngoại bang.

Năm 1990, trong quy trình thống nhất nước Đức, nghị viện của các tiểu bang thuộc Đông Đức cũ cũng phê chuẩn và gia nhập Hiến pháp này mà nhân dân Đức ở cả bên Đông lẫn bên Tây đều không được trực tiếp biểu quyết. Trong 64 năm từ khi ra đời, Hiến pháp Đức có 59 bổ sung, sửa đổi, lần cuối cùng vào giữa năm ngoái. Không một lần nào có trưng cầu ý dân.[i] Song điều đó không cản trở nước Đức, không lâu sau sự ngự trị của cả hai chế độ toàn trị kinh hoàng của thế kỉ 20 là chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản trên lãnh thổ của mình, thành một trong những nền dân chủ trưởng thành và ổn định nhất trên thế giới.

Hiển nhiên mỗi quốc gia có con đường lập hiến của riêng mình. Trong cuộc thảo luận về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi đang diễn ra ở Việt Nam, một trong những tiêu chí được nhấn mạnh không chỉ ở giới cấp tiến là quyền lập hiến của người dân. Báo chí Việt Nam, cả chính mạch lẫn ngoài luồng, tràn ngập những lời đòi hỏi, xác nhận và xiển dương nguyên tắc mọi quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân và thuộc về nhân dân. Trên mặt chữ, chưa bao giờ nhân dân được kính trọng, được gửi gắm nhiều tin cậy, được phó thác nhiều quyền lực như thế. Nhiều đến mức không thể không nghi vấn. Trong thực tế, những khái niệm trừu tượng này được thực hiện qua những hình thức và cấp độ khác nhau của trưng cầu ý dân (referendum).
Song trong những điều kiện hiện có, tôi rất hoài nghi giá trị của một cuộc trưng cầu như thế tại Việt Nam. Thậm chí tôi còn cho rằng thay vì thực hiện chức năng thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa xã hội lên phía trước, nó có nhiều nguy cơ kéo giật lùi tiến trình ấy về phía sau. Một phát đạn ngược nòng. Điều này không liên quan gì đến lập luận nhảm nhí rằng dân trí chưa cao thì chưa thể thi hành dân chủ, bởi lẽ một cuộc trưng cầu ý dân tại Việt Nam, đặc biệt ở hình thức cao nhất là toàn dân phúc quyết hiến pháp, có thể là tất cả mọi thứ, chỉ trừ là một hành động thực thi dân chủ.
Ai nắm trong tay mọi phương tiện có thể khuynh loát vô giới hạn tất cả các khâu trọng yếu của một cuộc trưng cầu ý dân trong thời điểm hiện tại, từ chuẩn bị nội dung cần đưa ra trưng cầu, tổ chức thông tin và quảng bá, tổ chức và giám sát bỏ phiếu, tổ chức và giám sát kiểm phiếu, đến đánh giá, công bố và thực thi kết quả? Ai có thể điều khiển, nhồi sọ và lừa mị dư luận bằng bộ máy tuyên truyền khổng lồ của mình? Ai có thể đe dọa cử tri bằng guồng máy đàn áp khét tiếng của mình? Ai có thể mua những lá phiếu bằng đủ thứ hứa hẹn ban phát ưu đãi và thậm chí bằng đất tươi và tiền mặt? Ai có thể tùy tiện chế biến, diễn giải và sử dụng kết quả bỏ phiếu theo ý mình? Những người đưa ra kiến nghị trưng cầu ý dân đã không quên đòi hỏi đi kèm, rằng nó phải được “tổ chức thật sự minh bạch và dân chủ với sự giám sát của người dân và báo giới“. Nhưng chỉ cần đặt tiếp một số câu hỏi đơn giản hơn – Báo giới nào? Người dân nào được chọn trên cơ sở tiêu chuẩn nào vào vai giám sát? Minh bạch theo đánh giá của ai?… – là có thể thấy rằng hiện tại, một cuộc trưng cầu đáp ứng được những đòi hỏi ấy là hoàn toàn bất khả thi.
Thêm vào đó, đa số dân chúng Việt Nam là những người đã có hơn một nửa thế kỉ để rèn luyện tinh thần cầu an và thụ động như những kĩ năng sống căn bản. Hai chục năm gần đây họ còn tích lũy thêm một kĩ năng đầy tinh thần thời đại khác: bàng quan với mọi vấn đề không trực tiếp đụng chạm đến quyền lợi của mình và gia đình. Họ cũng dễ bị tha hóa và đã bị tha hóa sâu sắc như chính những người cai trị họ. Tôi không có những con số cụ thể – tất nhiên, không ai có cả – nhưng theo cảm nhận riêng thì ước chừng 20% cử tri Việt Nam là những người từ trung thành đến trung thành tuyệt đối với chế độ hiện tại; 30% là những người có thể không ưa mặt này hay mặt khác của chế độ đó, ít hay nhiều có những bất mãn hoặc bất bình cục bộ, song hợp tác và gắn bó với chế độ về nhiều phương diện – kể cả phương diện sổ hưu. Vâng, vì sao không? – và không có nhu cầu thay thế nó bằng một chế độ nào khác mà họ chưa từng biết hay chỉ nghe nói loáng thoáng; 40% là những người không biết và không cần biết mình đang sống trong một thể chế nào, miễn sao cuộc sống thường nhật của mình được bảo đảm; 8% là những người mong muốn thay đổi thể chế chính trị bằng phép mầu từ lột xác của Đảng Cộng sản và liều thuốc thần tự cải cách của chế độ. Những người chủ trương thay thế toàn bộ hệ thống Đảng trị và công an trị hiện tại bằng mô hình dân chủ tự do phương Tây chiếm vỏn vẹn 2% còn lại – tức trên dưới 1 triệu người, tính một cách hào phóng, con số trong thực tế có thể khiêm tốn hơn rất nhiều.
Từ những hoàn cảnh ấy, không cần phải là một nhà tiên tri cũng có thể biết trước kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân tại Việt Nam. Không có gì dễ dàng và khôn ngoan hơn cho chính quyền Hà Nội, nếu nó cho diễn ngay lập tức một màn kịch như thế. Trong khói lửa của cuộc nội chiến, đầu năm ngoái Tổng thống Syria Assad đã thành công rực rỡ với nước cờ toàn dân phúc quyết hiến pháp, trong khi phe đối lập nỗ lực ngăn cản sự kiện này. Gần 90% cử tri tán thành bản hiến pháp mới, trong đó thậm chí nguyên tắc đa đảng được xác nhận. Nhà độc tài lại hoàn toàn chính danh. Trước đó, chính quyền không thể gọi là dân chủ ở Maroc cũng nhanh chân thoát khỏi áp lực của Mùa Xuân Ảrập bằng cách mở vài cái van phụ trong hiến pháp sửa đổi và có thể hài lòng với 98 % số phiếu thuận. Trưng cầu ý dân ở Ai Cập thì đem lại cho đất nước này một hiến pháp thần quyền, với nền tảng là Luật Hồi giáo Sharia, bất chấp sự cự tuyệt của chính các thẩm phán và các nhóm đối lập. Xa hơn một chút trong lịch sử, cuộc trưng cầu ý dân duy nhất trên lãnh thổ Việt Nam năm 1955 phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống đã không tặng cho người dân miền Nam một thể chế dân chủ đáng mơ ước. Xa hơn chút nữa, cuộc biểu quyết của toàn dân (Volksabstimmung) năm 1934 tại Đức với gần 90% số phiếu thuận đã đặt một nhân vật lên bệ phóng, để đẩy cả lịch sử đất nước này lẫn lịch sử thế giới vào một chương cực kì đen tối: Adolf Hitler.
Bao nhiêu ý dân thì đủ đảm bảo một hiến pháp tốt đẹp?
Tôi không ủng hộ đề nghị tổ chức toàn dân phúc quyết hiến pháp tại Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay.○
Nguồn: Pro & Contra




[i] Thậm chí đa số dân chúng Đức còn không biết rõ hay không quan tâm điều gì được bổ sung, điều gì được sửa đổi. Thái độ đó có những cơ sở mà tôi sẽ đề cập trong một dịp khác.