Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Công Định. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Công Định. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2010

Chính quyền Việt nam và tính Hiến định



(Mến tặng: Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung và những người Việt nam cùng chí hướng.)

Những lãnh đạo của chính quyền Việt nam luôn khẳng định chính quyền (hay nhà nước) Việt nam hiện nay là “chính quyền của dân, do dân và vì dân” và còn đưa ra những khẩu hiệu rất tốt đẹp như “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Những lời nói và khẩu hiệu đó đều giống với sự khẳng định của Hiến pháp Việt nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), trong đó Điều 2 ghi rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.” Tuy nhiên, tính chất “của dân, do dân và vì dân” của một chính quyền không thể được xác định bằng tuyên bố của người cầm quyền hay chỉ dựa vào sự khẳng định của một văn bản có tên là Hiến pháp.

- Một chính quyền muốn là “của dân, do dân” thì chính quyền đó ít nhất phải có những người đứng đầu do chính người dân đề cử và chọn ra bằng các cuộc bầu cử tự do.

Đối chiếu với nguyên tắc này, chính quyền Việt nam trên miền Bắc (từ 1954 đến 1975) và trên toàn Việt nam thống nhất (từ 1975 đến nay) không thể là một chính quyền “của dân, do dân”. Tất cả các vị trí lãnh đạo cao nhất trong toàn bộ hệ thống chính quyền Việt nam (trong các không gian và thời gian vừa nêu) từ trung ương tới địa phương đều là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt nam và đều do Đảng Cộng sản Việt nam ấn định trước khi tiến hành một hoạt động có tên là “bầu cử”.

- Một chính quyền có tính chất “vì dân” tối thiểu phải là một chính quyền đã được Hiến định (constitutionalized), nghĩa là chính quyền đó ít nhất phải là một chính quyền được hình thành và hoạt động tuân theo các qui định của một bản Hiến pháp đã được đưa cho toàn dân phúc quyết. Hiến pháp chính là văn bản có các qui định nhằm minh định các trách nhiệm phải thực hiện và giới hạn rõ các quyền lực cho chính quyền trong chức năng phục vụ toàn dân và đất nước. Hiến pháp sinh ra là để ấn định cấu trúc, chức năng, cách thức vận hành cho chính quyền chứ không phải điều ngược lại. Hiến pháp là công cụ đóng ách thuần hóa vào “con thú” quyền lực, giữ cho “con thú” không thể phản lại người đã tạo ra và nuôi dưỡng nó. Do đó nếu người phê duyệt cuối cùng của bản Hiến pháp không phải là toàn dân hoặc chính quyền không còn tuân thủ Hiến pháp thì cái được gọi là chính quyền, tất yếu, sẽ đi đến sự tha hóa cùng cực - dối trá, xấc xược và hung tợn với chính nhân dân của nó.

Nhìn lại sự hình thành 04 bản Hiến pháp của Việt nam từ năm 1946 đến nay (không kể các Hiến pháp qui định các chính quyền Việt nam Cộng hòa) đều thấy chưa có bản nào được toàn dân phúc quyết. Nếu lấy lý do bất khả kháng (do tình trạng nổ ra chiến tranh trực tiếp) để giải thích cho việc Hiến pháp năm 1946 (được coi là tiến bộ nhất) không thể công bố và xin sự phúc quyết của toàn dân ngay sau khi được Quốc hội lập hiến phê chuẩn thì không có lý do thỏa đáng nào có thể giải thích cho việc quên lãng bản Hiến pháp năm 1946 sau khi hòa bình đã trở lại và 03 bản Hiến pháp tiếp theo (năm 1959, 1980 và 1992) đã không được đưa ra toàn dân phúc quyết, ngoại trừ lý do Đảng Cộng sản Việt nam không muốn để toàn dân phê duyệt Hiến pháp và không muốn những nội dung tiến bộ của bản Hiến pháp 1946 được thực thi (03 bản Hiến pháp cuối cùng đã tự ý xóa hẳn tinh thần dân chủ của bản Hiến pháp 1946).

Như thế, về lý thuyết, cần phải kết luận rõ rằng chính quyền Việt nam hiện nay không có bất cứ nền tảng cơ bản nào của một chính quyền “của dân, do dân và vì dân”. Và thực tế, chỉ căn cứ vào những hành xử ngang ngược gần đây của chính quyền Việt nam đối với dân chúng và đất nước, cũng hoàn toàn đồng nhất với kết luận lý thuyết vừa nêu. Nhưng, ngay cả khi có một phép màu nào đó làm cho những người cầm quyền tại Việt nam hiện nay thay lại hẳn thái độ, biết đưa lợi ích của đảng xuống dưới lợi ích dân tộc, biết lắng nghe và trân trọng mọi ý kiến của dân chúng (đặc biệt là giới trí thức), biết dựa vào lòng dân để thoát khỏi nanh vuốt đang siết chặt của những kẻ xâm lăng phương Bắc thì chính quyền Việt nam cũng chưa thể đạt được bản chất “của dân, do dân và vì dân” chừng nào tính Hiến định của chính quyền chưa được xác lập. Nếu không tuân thủ nguyên tắc Hiến định thì mọi sự thay đổi tốt đẹp từ người cầm quyền cũng chỉ là hành động có tính hứng khởi của kẻ chuyên quyền hoặc chỉ là lối vỗ về dân chúng của những kẻ muốn kéo dài quyền lực độc đoán.

Tuy nhiên, sẽ là sai sót nếu chỉ thấy những lợi ích của nguyên tắc Hiến định đối với những người bị trị (nhân dân). Nếu nhìn kỹ, nguyên tắc Hiến định cũng mang lại ích lợi to lớn cho người cầm quyền. Hiến định chính là hàng rào giữ cho người cầm quyền khỏi sa vào những cám dỗ tội lỗi, thường khó cưỡng lại, của quyền lực. Nguyên tắc Hiến định giúp người cầm quyền có thể an tâm sử dụng quyền lực một cách quyết đoán, ngay cả trong những tình huống gay cấn nhất và giúp những người đương quyền khỏi phải băn khoăn về chuyện “an toàn” khi “hạ cánh”.

Chính quyền hiến định không phải là mô hình đặc thù và là đặc quyền cho bất cứ quốc gia nào. Chính quyền hiến định là một thành quả chung của Nhân loại sau hàng ngàn năm lần mò kiếm tìm và trả giá cho các mô thức quản lý khác. Chính quyền hiến định đã trở thành cách thức quản lý chung và duy nhất cho mọi quốc gia muốn tiến tới sự cường thịnh, nhân bản và vững bền. Việt nam không thể là ngoại lệ nếu nhân dân Việt nam cũng muốn đất nước mình trở nên cường thịnh, nhân bản và vững bền. Một chính quyền hiến định có thể vẫn chưa hoàn hảo, nhưng nó luôn để ngỏ mọi khả năng thay đổi bất cứ lúc nào, và quan trọng hơn, bằng những cách hòa bình.

Song, đường đi tới một chính quyền hiến định thường không dễ dàng. Lịch sử chưa bao giờ chứng kiến quyền lực độc đoán, luôn kèm theo những đặc quyền vô hạn, lại chịu chấp nhận tính Hiến định một cách dễ dàng. Ngay cả các chính quyền hiến định đã được dựng lên một cách hòa bình, cũng chỉ là kết quả của những hành trình xa ngái với những khúc đẫm nước mắt và máu.

Để có một chính quyền hiến định cho chính mình, dân tộc Việt nam không thể không phải quyết tâm đối mặt và gắng vượt qua những trở ngại, dù đó là song sắt nhà tù hay giá treo cổ.

Phạm Hồng Sơn
12/01/2010


(Phần cuối có nhiều chi tiết khác với bản đã đăng trên thongluan.org và doithoaionline.org)

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2009

Nên để việc đó cho chiếc cân !


Cách đây chưa đến 20 năm những người đi chợ thường khổ sở về chuyện cân đo hàng hóa khi mua bán. Hàng hóa khan hiếm làm tăng thói « buôn gian bán lận », « cửa quyền », « hống hách » của người bán hàng. Những gian thương thường sử dụng những chiếc cân sai lệch (không đúng tiêu chuẩn đo lường và dĩ nhiên phải có lợi cho người bán) hoặc dùng những thủ thuật làm lệch cân khi cân hàng hóa để kiếm lợi bất chính. Gian thương có những cách cân như thế cũng thường là những người giỏi nài gọi, chèo kéo khách và luôn kèm thói dọa nạt, cưỡng ép những khách đã chót sa chân. Gian thương không bao giờ để cho khách kiểm tra cân hay tự cân lấy. Nhiều khách hàng biết là bị lừa nhưng trước sự bặm trợn, ầm ĩ, phiền phức giữa chợ, cũng đành chậc lưỡi mua « cho xong chuyện » với ý nghĩ sẽ « cạch đến già ». Nhưng cũng có những khách hàng không chấp nhận bị lừa và quyết « chống trả ». Gặp phải những người « đáo để » như thế, những gian thương thường cũng biết « tìm đường rút lui », để giành công sức cho những « con gà » khác dễ « xơi » hơn. Nhưng cũng có trường hợp dẫn đến xô xát và nghe nói có cả án mạng chỉ vì chuyện không « thuận mua, vừa bán ». Tuy nhiên, trong bối cảnh « gạo châu củi quế » như thế, vẫn có những người (tất nhiên không thể nhiều) buôn bán lương thiện, quyết lấy chữ tín làm lãi. Những người thiện thương luôn dùng những chiếc cân đúng tiêu chuẩn (quốc gia hoặc quốc tế), sẵn lòng chiều khách trong việc cân đo hàng hóa và luôn vui vẻ để khách tùy ý quyết định. Những cửa hàng như thế thường lặng lẽ nhưng tấp nập, lời mời chào (nếu có) luôn nhã nhặn, ôn tồn và tuyệt không có lời chèo kéo hay to tiếng.

Việc cân đo hàng hóa (những vật có thể sờ mó được) còn tế nhị và nan giải đến thế thì việc cân đo công lý - phán xét đúng-sai, thật-giả, chắc chắn càng không đơn giản hơn. Chưa chắc chiếc cân công lý đã được đảm bảo đúng tiêu chuẩn. Chưa chắc những người cầm cán cân công lý đã là người tôn trọng sự thật. Nhất là trong hiện trạng công lý đã khan hiếm đến độ có cả dịch vụ « chạy án » thì việc tìm được công lý sẽ phải khó khăn gấp bội. Những nài gọi, chèo kéo, tán tụng, bặm trợn cho thứ « công lý » rởm luôn huyên náo, ồn ào trong xã hội cũng là điều chẳng lạ. Nhưng Công lý đâu cần nhiều đến ngôn từ. Biểu tượng nhân cách hóa của Công lý (theo triết lý phương Tây) là một nữ thần bị bịt mắt, nét mặt bình thản, miệng khép, với một bàn tay giơ lên chiếc cân có hai đĩa ngang bằng và bàn tay kia nắm đốc kiếm. Trong các định chế tư pháp ở Việt Nam như tòa án, bộ tư pháp hay hội luật gia cũng thấy thấp thoáng hình chiếc cân hai đĩa ngang bằng. Nhưng tịnh không thấy bất kỳ dấu hiệu hay biểu tượng nào cho âm thanh phán xét, sự hả hê hay hằn học của Công lý. Khi chiếc cân là chuẩn và người cầm cân là công tâm (bịt mắt) và nghiêm cẩn (tay nắm đốc kiếm) thì chỉ cần giơ chiếc cân cho « bách gia trăm họ » « mục sở thị » là đủ biết bên nào nặng bên nào nhẹ, bên nào đúng bên nào sai, đâu là sự thật đâu là giả dối. Còn khi cân đã không chuẩn và người cầm cân chỉ là đệ tử của phường danh lợi thì mọi lời tán dương kẻ cầm cân hay bài bác nạn nhân, có dụng công đến mấy, cũng chỉ làm cho sự gian trá thêm phần lố bịch. Huống hồ khi chưa ai được quyền phán quyết mà các màn phụ họa tán dương và bài bác đã ầm ĩ thì thật khôi hài.

Một nhà nước biết tôn trọng pháp luật không bao giờ hằn học khi bất lực với nghi can và càng không bao giờ tỏ vẻ hả hê khi có được lời thú tội. Nếu không chứng minh được nghi can có tội có nghĩa là đã có một công dân chắc chắn biết tuân thủ pháp luật. Còn nếu chứng minh được nghi can có tội có nghĩa là hệ thống pháp luật đã bị coi thường. Vậy tại sao phải hằn học khi pháp luật được tuân thủ và hả hê khi pháp luật bị coi thường? Và ngay lời thú tội của nghi can (nếu là sự thật) cũng không có giá trị quyết định cho việc kết tội . Một nhà nước biết yêu quí công lý chỉ nên chú tâm để đảm bảo có một cán cân công lý hợp chuẩn quốc tế (hệ thống pháp luật minh bạch, phù hợp với các công ước, thông lệ có tính phổ quát toàn cầu) và đảm bảo có những người cầm cán cân công lý thật công tâm (không bị ảnh hưởng, chi phối bởi quan điểm chính trị, phe nhóm lợi ích, tôn giáo hay sắc tộc) và nghiêm cẩn (nguyện bảo vệ hiến pháp và pháp luật đến cùng). Một nhà nước quang minh, chính đáng không cần những màn phô diễn, chèo kéo ầm ĩ chỉ để chứng tỏ công lý thuộc về mình. Và cả khi muốn cứu lại sự chính đáng đã mất cũng không nên làm như thế. Nên để việc đó cho chiếc cân công lý. Nhưng xin nhớ Công lý không bao giờ liên quan tới đổi chác hay mua bán.


Phạm Hồng Sơn
23/08/2009

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2009

Hãy bắt tôi đi !

Sự tước đoạt tự do của một cá nhân thường là không thể thấm với sự tước đoạt lãnh thổ của một quốc gia hay sự nhục mạ danh dự của một dân tộc. Song, việc bắt Luật sư Lê Công Định đã không còn là chuyện trấn áp một cá nhân.

Giữa lúc biên thùy đang rên xiết, quốc thổ nơi xung yếu bị thao túng. Sao dám đang tâm tống ngục người đòi «Trả lại hào khí Diên Hồng » ?

Ngay khi nguyên khí quốc gia đang gắng gượng trở dậy. Sao có thể lưu đày nhân sỹ đang nỗ lực «Khai dân trí » ?

Trong lúc dân đen đang khốn đốn vì bị chặn đường ra biển. Sao lại triệt đi một tinh thần dám «Vươn ra biển lớn» ?

Thường nghe, kẻ làm vua túng quẫn xưa kia khi chạy sang phương Bắc cũng chưa bao giờ dám thất thố với kẻ sỹ, chả dám lên giọng mắng mỏ thần dân, cũng không xuẩn đến mức hả hê, tự đắc với thân phận tôi đòi.

Sự thách thức tinh thần dân tộc là điều đã rõ. Trò nhạo báng danh dự quốc gia là điều đang hiển hiện. Âm mưu dọa nạt lương tri đang thức tỉnh là điều không còn bàn cãi.

Sự tồn vong của dân tộc, nền độc lập của giang sơn đang ngóng chờ một thái độ dứt khoát của mỗi con dân nước Việt trước các thách thức, nhạo báng, dọa nạt lịch sử. Bóng của những âm mưu trấn áp vẫn đang rình rập ngày đêm khắp không gian nước Việt. Nhưng, chúng sẽ phải hoảng hồn tan biến khi tiếng hô đồng thanh cất lên: Hãy bắt tôi đi !

Phạm Hồng Sơn
16/06/2009

(Tất cả các từ đặt trong « « là nhan đề bài viết hoặc diễn đàn đã tham gia của Luật sư Lê Công Định)

Note: 1. Chữ "...đang tâm..." do Thongluan.org sửa giúp từ chữ "...đang tay..."
2. Có lẽ "Hãy bắt ta đi!" hay hơn.