Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân quyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân quyền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

Gã say và đối thoại nhân quyền - A drunken and a HR dialogue

(Bilingual)

Phạm Hồng Sơn

Khoảng 1:30 sáng nay, giờ Hà Nội, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ra một thông cáo chính thức cho biết cuộc đối thoại nhân quyền thường niên lần thứ 19 giữa hai nước Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 7 tháng Năm này.

Nhưng chỉ khoảng 4 giờ sau, nhà cầm quyền Việt Nam đã cho người tới đóng chốt tại khu nhà tôi với hai biển cấm đặt giữa ngõ lối vào nhà: “Cấm quay phim chụp ảnh”, “Khu vực cấm vào” (bằng tiếng Anh).

Một nhân viên an ninh đã nói thẳng với tôi “Anh không được ra ngoài trong những ngày này vì sắp có đối thoại nhân quyền”. Tôi chỉ đơn giản phản đối đáp lại: “Những việc các bạn đang phải làm hôm nay là phi pháp và phi đạo lý.”

Kiểu giam tù tại nhà công dân bất chấp pháp luật như thế này không phải là chuyện bất thường đối với riêng tôi cũng như đối với những người đang cổ xúy cho nhân quyền tại Việt Nam. Lần này là lần thứ hai trong năm đối với riêng tôi sau lần trước bị giam trong nhà suốt 3 ngày đêm liên tục nhân dịp Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) mở cuộc họp long trọng tại Hà Nội vào những ngày cuối tháng Ba, đầu tháng Tư vừa qua. Nhiều công dân khác cũng phải chịu đựng tình cảnh tương tự.

Nhưng lần này có thêm một hiện tượng hơi lạ. Khoảng 10:30 sáng nay, một người đàn ông mặt đỏ dáng say rượu, không quen biết, vào gõ cửa nhà tôi và hét to mời tôi đi ra ngoài uống bia. Dĩ nhiên tôi đã từ chối lời mời kỳ cục đó và người đàn ông vùng vằng bỏ đi. Hiện tượng này ngụ ý điều gì, một đe dọa hay một điều gì khác? Tôi cũng như quí vị chắc chắn chưa thể biết.

Từ trước tới nay tôi luôn có quan điểm rõ ràng rằng việc xây dựng dân chủ và giành lại nhân quyền cho toàn thể nhân dân Việt Nam là một con đường chông gai và không thể hoàn thành ngay lập tức. Tôi cũng luôn hoan nghênh, ủng hộ mọi tiếp xúc, đối thoại giữa chính quyền độc tài Việt Nam hiện nay với cộng đồng dân chủ thế giới.

Nhưng tôi luôn tin rằng chừng nào nhà cầm quyền Việt Nam còn giữ lối ứng xử man khai, vô pháp luật đối với những nhà hoạt động ôn hòa, chừng đó mọi đối thoại nhân quyền đều không thể có kết quả tốt đẹp.○

A drunken and a HR dialogue

Pham Hong Son 

By 01:30 AM May 6, 2015 in Hanoi (around 01:30 PM May 5, 2015 in Washington, D.C.) the State Department posted a note media making the public aware that the 19th session of Human Rights Dialogue between the United States of America and Viet Nam will be held on May 7 in Hanoi.  

Only about 4 hours later the authorities of Vietnam sent a squad to my neighborhood to snoop my own house and mainly to control my own movement, preventing myself from having any contacts the authorities deem “unfavorable”. Two sign boards, warning 'no picture”, 'restricted area' in red and bold letters, have been erected right at the beginning of the only path leading to my house.

One of the security policemen in duty said to me “You are not allowed to leave these days because the human rights dialogue is imminent.” I replied in protest simply that “What you have been assigned to do is illegal and immoral.”

This in-house-imprisoning is neither legal nor unusual for myself and for any Vietnamese who are promoting human rights in Vietnam. And this is the second illegal prevention this year against me. The first one was in last late March-April, lasting for 3 days and 3 nights whilst the IPU was holding its solemnly 132nd meeting in Hanoi. Several other activists were treated alike.

But this time an uncanny sign has just happened. By 10:30 AM (GMT+7) today a drunken man, unknown to me, came to my home, shouting to invite me to go out drinking beer. Of course I did decline the awkward invitation. The drunken man left in unfriendly manner. Does the coming of an unknown drunken mean a threat or anything else? No one confirms anything so far.

I always maintain that the road to democracy and human rights is arduous and multi-staged and any contacts or dialogues between the Vietnamese authoritarian government and the democratic community should be lauded. However I do believe as long as the Vietnamese authorities retain uncivilized and unlawful conduct towards peaceful activists any Human Rights dialogues remain hardly productive.○



Thứ Tư, 30 tháng 7, 2014

Lời của kẻ vắng mặt – A speech from an absent invited

(Bilingual)

Như quí vị đã biết Sứ quán Úc phối hợp với Đại diện Liên Minh Châu Âu tại Việt Nam và năm Sứ quán khác (Hoa Kỳ, Canada, Na-uy, New Zealand và Thụy-sỹ) tổ chức hội thảo tại Sứ quán Úc: “Truyền thông phi nhà nước ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay” vào lúc 8:30 hôm nay 30/7/2014. Những người tổ chức đã có sáng kiến rất dân chủ và mạnh mẽ: chính thức mời nhiều người Việt Nam thuộc nhiều thành phần và quan điểm chính trị khác nhau tham gia Hội thảo, từ đại diện của chính quyền, của Đảng cộng sản Việt Nam, các tổ chức tự lập và cả các cá nhân độc lập, bất đồng chính kiến. Tôi là một trong những người được mời nhưng không thể tới dự, như nhiều anh chị em khác, do chính quyền lại cắt người tới chặn ngay tại nhà từ sáng sớm.

Sau đây là nội dung chính trong bày tỏ tôi gửi tới ban tổ chức Hội thảo thay cho sự vắng mặt ngoài ý muốn của mình.

Phạm Hồng Sơn

___


Tôi tin tất cả chúng ta sẽ lúng túng với câu hỏi này: Quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ở Việt Nam trong một thập niên qua đã diễn tiến như thế nào?  

Còn đây là cố gắng trả lời ngắn gọn của tôi:

Một: chúng ta có thể khẳng định ngay mà không sợ sai rằng Việt Nam hoàn toàn không có những tự do đó hoặc tình trạng còn trở nên tồi hơn nếu nhìn vào cấu trúc căn bản của nền chính trị Việt Nam hoặc xem lại những khung pháp lý như Điều 4 Hiến pháp mới sửa 2013 hoặc Nghị định 72/CP năm 2013 của Chính phủ Việt Nam.

Hai: chúng ta có thể phải rơi nước mắt nếu nhìn vào danh sách những người đang bị cầm tù hoặc đang bị quản chế tại gia trên khắp ba miền đất nước chỉ vì họ đã dám viết, dám bày tỏ theo tiếng nói lương tâm của chính họ một cách ôn hòa nhưng trái với quan điểm của đảng cộng sản và chính quyền Việt Nam.

Ba: nhưng chúng ta cũng có thể khẳng định các quyền trên tại Việt Nam trong một thập niên qua đã có tiến bộ đáng kể nếu nhìn vào thực tế của sự đa dạng về tính chất và số lượng đang nở rộ của những tiếng nói bất đồng hoặc nếu đọc những trang mạng đăng những quan điểm chính trị ngược với chính quyền do chính người dân đang sống ở trong nước khởi sự và duy trì. Cách đây 10 năm những điều vừa kể không thể có.

Ba cách nhìn vừa nói, dù rất thiếu sót, có thể giúp chúng ta tránh sa vào hai thái cực: bi quan cùng cực hay lạc quan liều lĩnh về quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ở Việt Nam– những yếu tố cơ bản của một hệ thống truyền thông tư nhân – phi nhà nước.

Thực trạng nhân quyền thu nhỏ vừa nêu cũng làm lộ ra một nghịch lý oái ăm của đất nước Việt Nam chúng tôi: nhu cầu tự do của toàn xã hội Việt Nam đang bị ngáng trở bởi ý chí chính trị của một nhóm người.

Tuy nhiên, không có con người nào sinh ra đã biết nói, không một xã hội toàn trị nào lại có hệ thống truyền thông tư nhân. Muốn lớn khôn, con người không thể không học nói. Để tự do, xã hội không thể không tạo lập truyền thông tư nhân.

Vì vậy, hội thảo “Truyền thông phi nhà nước tại Việt Nam hiện nay” do Sứ quán Úc phối hợp với Phái đoàn Liên minh Châu Âu, Sứ quán Hoa Kỳ, Sứ quán Canada, Sứ quán Na-uy, Sứ quán Thụy-sỹ tổ chức, là một biểu hiện cụ thể của sự ủng hộ giá trị cho tiến bộ của Việt Nam chúng tôi. Một cách thẳng thắn, tôi muốn ví hành động đó giống như một thiện nhân khích lệ một tù nhân bị cấm nói lâu ngày: Hãy nói lên đi!

Dĩ nhiên, “học nói” trong một chế độ toàn trị không thể chỉ gặp những tiếng cười hân hoan hay sự dịu dàng như trẻ thơ học nói. Song, nhiều người Việt Nam, tôi đoan chắc, đã thấu hiểu điều này.○


A speech from an absent invited

The Australian Ambassador to Vietnam, H.E. Mr Hugh Borrowman, in conjunction with his H.E. counterparts from the EU Delegation, the United States of America, Canada, New Zealand, Norway and Switzerland, took a bold and democratic initiative to invite a variety of Vietnamese, who hold different political opinions and come from different social strata, to attend the Seminar “Non-State Media in Contemporary Vietnam”, to be held at the Australian Embassy at 8:30 AM July 30, 2014. I was one of these invited but failed to attend the Seminar due to a repeated prevention made by the authorities.

The following is a written statement I sent to the Seminar in place of my absence.

Pham Hong Son

___

We may be confused with this question: How have the rights to freedom of speech and expression in Vietnam evolved in the last decade? Here is my brief attempt:

Firstly, we can affirm that there has been absolutely no freedom or the situation has even worsened, regarding the fundamental pillars of Vietnamese political system or the legal frameworks such as Article 4 of the newly amended Constitution or the Decree 72/CP-2013 of Vietnamese Government.

Secondly, it’s depressing to have a look at the list of those who are in prison or under house arrest for they just dared to write, to express their non-violent beliefs opposing the political will of the communist party and the government of Vietnam.

Thirdly, however we cannot deny that over the last decade the rights to freedom of speech and expression in Vietnam have progressed considerably in terms of number and diversity of dissidents and the non-state online pages which hold political dissent and are run by Vietnamese living inside the country. Ten years ago, those things could not be found.

These three points of view, although flawed, could stop us from falling into two extremes: bleak pessimism or reckless optimism about the freedoms of speech and expression in Vietnam – two essentials for private media.

The aforementioned simplified status of human rights in Vietnam unveils an awkward paradox in our country: the aspiration to freedom of the whole society has been barred by a small group of our own people.

However no man is born speaking, no totalitarian regime accepts private media. To mature, a person must learn to speak. To be free, a society must establish private media.

For that, the seminar “Non-state media in contemporary Vietnam”, organized by the Australian Embassy in conjunction with the foreign missions of the EU Delegation, the United States of America, Canada, Norway, New Zealand and Switzerland, is a concrete and valuable support for our country. To be honest, I would imagine the seminar like an action of a good man encouraging a long-silent prisoner: Speak up again, please!

Naturally, “learning to speak” under a totalitarian regime is not always welcome and lauded like a child learns to speak. But many Vietnamese, I am sure, have understood that.○




Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

Tại sao và tại sao? - Something good in everything

(Bilingual)

Chính quyền Việt Nam đang hả hê vì vừa được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp Quốc cho nhiệm kỳ 03 năm. Một chính quyền nổi tiếng về đàn áp nhân quyền lại được 184/192 quốc gia tán thành cho trở thành thành viên của một cơ quan quốc tế có sứ mệnh cổ xúy và bảo vệ nhân quyền. Tại sao?

Nhưng xét lại, bản thân chúng ta, những người đang bị tước mất nhân quyền, nhiều khi lại để quá nhiều sức lực và thời gian vào những thứ như tán chuyện tầm phào, đưa tin giật gân, buông thả xúc cảm, post ảnh người đẹp (cả nữ lẫn nam), câu view… Tất cả những điều này đều là nhân bản, không hoàn toàn xấu, không phải lúc nào cũng xấu hoặc hoàn toàn không xấu. Nhưng những thứ đó thật không nhiều ý nghĩa cho những nhân quyền cơ bản. Nhưng tại sao chúng ta không từ khước, hay không kiềm chế được tốt hơn, những thứ như thế, tại sao? ○

Something good in everything

The fact that Vietnam, dubbed by RSF an “internet enemy”, was just elected a 3-year-term member in the United Nations’ Human Rights Council may frustrate or depress many people. However, this fact also reminds us of the naked truth that everything, including the UNHRC, always changes or needs change. And human rights must rely on interested people’s effort first and human rights in Vietnam require much more effort from very Vietnamese people. So why do we sometimes spend much effort and time on trivial things like bickering, celebrities, cheap-instinct jokes, etc.?

If Vietnam’s membership in UNHRC helps us give up such temptations there would be a good thing in that bad thing.○



Nguồn/Source: Facebook Pham Hong Son

Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2013

Tuyên bố 258-Bước tiến của giới trẻ Việt Nam

Phạm Đình Trọng

Tuyên bố 258 công bố ngày 20/07/2013 có đoạn viết: “Chúng tôi kêu gọi chính quyền Việt Nam và Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc xem xét lại điều 258 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009: ‘tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.’“. Sở dĩ có lời kêu gọi đó là vì chính quyền Việt Nam đã sử dụng điều 258 để bắt những người đi phân phát bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, bắt những người viết blog bộc lộ chính kiến của họ,… Và Tuyên bố 258 yêu cầu chính quyền Việt Nam phải “thể hiện các cam kết về nhân quyền của họ như một ứng cử viên tốt trước cuộc bầu cử, để tạo điều kiện cho các thành viên Đại hội Đồng Liên Hiệp Quốc đánh giá các cam kết nhân quyền của họ.” Dịch Tuyên bố 258 ra tiếng Anh. Cử người tỏa ra thế giới đưa Tuyên bố 258 cho các tổ chức Nhân quyền quốc tế. Đến thẳng một số đại sứ quán của những quốc gia dân chủ tại Hà Nội để trao Tuyên bố 258 tận tay cho bạn bè quốc tế.

Những việc hệ trọng, lớn lao đó đều do các bạn trẻ khởi xướng và phân công nhau thực hiện. Tôi khâm phục việc làm thông minh, đàng hoàng, vừa trí tuệ, vừa quả cảm đó của các bạn.

Việc làm của các bạn mang lại thắng lợi không phải chỉ ở tiếng nói đòi tự do dân chủ của người dân Việt Nam đã vượt ra khỏi sự bưng bít của Nhà nước công an đảng trị mà hình ảnh các bạn hiên ngang đi vào cánh cổng mở rộng đón các bạn của các tòa đại sứ của thế giới dân chủ, hình ảnh những công cụ bạo lực Nhà nước độc tài trong bộ cảnh phục sắc xanh hung thần từ hàng chục năm nay vẫn hung hăng, bặm trợn vung dùi cui, nắm đấm xuống đầu người dân Việt Nam trong những cuộc bắt bớ, đàn áp những tiếng nói dân chủ, trong những cuộc biểu tình chống Tàu Cộng xâm lược, nay đứng bất lực, thẫn thờ, lo lắng nhìn theo các bạn đi vào sứ quán nước ngoài, hình ảnh một bà phó đại sứ ra tận ngoài cổng lưu luyến, trìu mến nhìn theo các bạn ra về, hình ảnh các bạn trao bản Tuyên bố 258 cho các nhân viên ngoại giao nước ngoài tràn ngập trên các trang mạng toàn cầu là một thắng lợi vô cùng to lớn của lực lượng đấu tranh cho tự do dân chủ ở Việt Nam. Thời Nhà nước độc tài đảng trị độc quyền thông tin, độc quyền đối thoại với thế giới, tùy tiện lừa dối thế giới đã vĩnh viễn chấm dứt.

Việc làm của các bạn đã khẳng định một điều: Một thế hệ trẻ trung mang tri thức hiện đại của thế giới, mang khí phách của truyền thống của Việt Nam đã lớn lên, vững vàng đảm nhận vai trò lịch sử của mình. Tuyên bố 258 không phải chỉ là Tuyên bố đòi chính quyền Việt Nam phải thực hiện các cam kết về Nhân quyền mà còn là Tuyên bố nhận trách nhiệm lịch sử của một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam. Tuyên bố 258 cho chúng tôi khâm phục, hãnh diện về các bạn và cũng cho chúng tôi niềm tin và sự thư thái trong lòng.

Lớp người đã để lại cả sức lực và bầu máu nóng tuổi trẻ, để lại phần lớn năm tháng cuộc đời vào cuộc chiến tranh ý thức hệ, bằng chính năm tháng đắng cay của cuộc đời mình, bằng chính máu và nước mắt của mình nhận ra được sự độc hại, nhận ra được tội ác của học thuyết vay mượn lấy giai cấp thống trị dân tộc, lấy giai cấp chia rẽ, li tán dân tộc, lớp người đó chỉ kịp thức tỉnh, chỉ kịp chỉ ra tội ác và nọc độc của học thuyết vay mượn đó thì sức đã không còn để làm những việc cụ thể đòi hỏi sự xông xáo, bôn ba, đến sự mẫn cảm, nhạy bén, linh hoạt cũng không còn để có những sáng kiến kịp thời như khởi xướng ra Tuyên bố 258. Trong đấu tranh chính trị, không phải chỉ có nhận thức tư tưởng mà còn cần những hành động chính trị. Nguyễn Hộ có hành động chính trị cũng chỉ biết bỏ thành phố, đơn độc tìm về căn cứ bưng biền xưa cũng không được. Biểu tình cũng chỉ là hành động chính trị cổ điển. Bằng biểu tình, những người Cộng sản đã cướp được chính quyền vì thế Nhà nước Cộng sản rất sợ biểu tình tự phát của người Dân. Và tất cả những cuộc biểu tình tự phát của người Dân yêu nước chống Tàu Cộng xâm lược đều bị đàn áp thô bạo.

Ra Tuyên bố 258 và vượt qua hàng rào bạo lực bưng bít, đưa Tuyên bố 258 ra thế giới là một hành động chính trị sáng tạo, khôn ngoan và hiệu quả. Một thế hệ hành động trong đấu tranh chính trị ở Việt Nam đã xuất hiện. Hơi tiếc chút xíu là lời văn Tuyên bố 258 chưa thật mạch lạc. Nhưng chính trị là thời cơ. Hành động chính trị cần kịp thời hơn là cần lời văn mạch lạc. Tuyên bố 258 rất đúng lúc, kịp thời.

Mải lo giải quyết về nhận thức tư tưởng, không để tâm đúng mức đến những chi tiết cụ thể nên những điều luật lập lờ, tạo điều kiện cho chính quyền lợi dụng sự lập lờ đó bóp chết những tiếng nói dân chủ như điều 79, điều 88, điều 258 đã nghiễm nhiên tồn tại trong Bộ luật Hình sự hàng chục năm nay, cho phép bạo quyền mặc sức lộng hành tước đoạt những quyền Con Người cơ bản của người Dân.

Lớp người trẻ khao khát tự do không chấp nhận điều 258 đã định vị trong Bộ luật Hình sự từ mấy chục năm nay thì Nghị định ngây ngô, ấu trĩ và ngang ngược, thô bạo buộc trang điện tử cá nhân chỉ được đưa thông tin cá nhân chủ trang, Nghị định 72/2013 vừa ra đời làm sao những lớp người trẻ khát khao tự do, dân chủ, lớp người ra đời cùng với sự ra đời của internet có thể chấp nhận sự tước đoạt giá trị cuộc sống mà internet mang lại cho họ! 

Cách mạng công nghiệp cho con người ý thức về cá nhân, tách cá nhân ra khỏi bầy đàn. Cách mạng tin học đã trao cho cá nhân công cụ internet để làm chủ thế giới. Nghị định 72/2013 biến công cụ để cá nhân làm chủ thế giới chỉ còn là trang nhật kí cá nhân. Thế hệ internet đã dõng dạc ra Tuyên bố 258 làm sao có thể chấp nhận Nghị định 72/2013 – một chỉ thị hòng ngu dân, kéo lùi bước tiến hóa của xã hội.○


Thứ Hai, 6 tháng 5, 2013

Khắc khoải Quyền Con người


Phạm Đình Trọng

Sáng chủ nhật 5.5.5013, tôi rất muốn phone rủ vài ông bạn già cùng đến điểm hẹn Quyền Con Người nhưng gọi nhau trên sóng điện rồi lại lọt vào tai công an thêm rắc rối nên hơn bảy giờ sáng, tôi lặng lẽ ra khỏi nhà.

Mới đi một đoạn ngắn tôi thấy một phụ nữ bên chiếc xe máy đứng bên đường ngóng nhìn lại suốt dọc đường. Đàn ông thấy phụ nữ bao giờ cũng muốn ngắm một gương mặt đẹp. Nhưng mặt người phụ nữ này che kín trong lớp vải đen và chiếc kính đen to. Chợt nhận ra điều bất thường ở người đàn bà trong buổi sáng chủ nhật êm ả, tôi ngoái nhìn lại thấy chị ta đang áp điện thoại vào má.

Xuôi theo đường một chiều Nguyễn Thị Minh Khai đến ngã tư đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa vừa lúc đèn đỏ nhưng vì rẽ phải nên tôi vẫn chạy xe vào đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Đến trước dinh Độc Lập, vừa rẽ trái sang đường Lê Duẩn thì hai cảnh sát giao thông trên chiếc mô tô trắng chạy trước chặn đầu xe tôi, cây gậy trắng trong tay viên cảnh sát chỉ xuống đường bảo tôi dừng xe. Hai cảnh sát giao thông trên chiếc mô tô chạy sau áp sát đến. Họ đòi kiểm tra giấy tờ xe của tôi. Tôi hỏi: Tôi có lỗi gì mà các anh dừng xe và kiểm tra giấy tờ tôi. Sau hai, ba lần họ đòi và hai, ba lần tôi hỏi lại họ mới bảo rằng rẽ phải mà tôi không bật tín hiệu báo rẽ gây nguy hiểm cho người sau.Thật vô lí nhưng tôi vẫn đưa giấy tờ cho họ xem. Điều bất thường nữa là họ còn hỏi tôi định đi đâu! Sao cảnh sát giao thông lại quan tâm đến việc tôi sẽ đi đâu nhỉ?

Nhận lại giấy tờ, tôi đến nhà Văn hóa Thanh niên gửi xe máy rồi đi bộ đến điểm hẹn Quyền Con Người, dải thảm cỏ và rừng cây đại thụ giữa nhà thờ Đức Bà và dinh Độc lập. Đang đi trong vườn cây, tôi quay lại thay đổi hướng đi thì phát hiện một thanh niên còn trẻ, dáng to đậm, mặc bộ đồ xám nhạt, áo có mũ trùm đầu thả sau gáy, bám theo tôi. Mấy lần tôi dừng lại, ngồi xuống ghế bên lối đi, cậu ta đều dừng lại gần tôi, không cần giấu giếm sự đeo bám của cậu ta.

Thấy một thanh niên mặt mũi sáng sủa, bên người có chiếc túi nhỏ như túi sách của sinh viên, ngồi một mình trên chiếc ghế đúc bằng gang tôi hỏi xin ngồi nửa ghế trống và được chấp nhận. Tôi bắt chuyện: Cháu đi chơi hay đến đây tham gia sinh hoạt Quyền Con Người? Cháu có quan tâm đến hoạt động đó không? Cậu thanh niên nói rằng có nghe nhắc đến việc đó nhưng Quyền Con Người vẫn bình thường, đầy đủ, có gì đâu phải quan tâm. Tôi nói Quyền Con Người là quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, dân mình đâu có. Cậu thanh niên bảo: Bác nói chuyện với cháu, thế là tự do tư tưởng rồi còn gì nữa – Nói chuyện riêng thì có thể nói được mọi điều nhưng nói trên điễn đàn, trên truyền thông thì đâu có được. Người dân biểu tình hợp pháp chống Trung Quốc xâm lược thì bị bắt bớ, đánh đập, tù đày. Người dân đâu có được bộc lộ chính kiến – Cháu chỉ quan tâm đến học hành, tương lai thôi – Quan tâm đến học thì cháu phải học để biết Quyền Con Người của cháu. Cháu chỉ quan tâm đến tương lai thôi à? Quyền Con Người của cháu không có thì tương lai làm gì có – Cháu thấy mọi cái đều tốt cả mà. Đất nước đã thay đổi, tốt lên rất nhiều – Có thay đổi nhưng quá chậm chạp, không tương xứng với tiềm năng đất nước và mồ hôi, xương máu của dân đã đổ ra. Cháu có thấy Nhật Bản, Hàn Quốc điều kiện tự nhiên đâu bằng mình mà chỉ hai mươi năm sau chiến tranh họ đã trở thành con rồng, con phượng kinh tế thế giới. Còn ta, chiến tranh kết thúc gần bốn mươi năm rồi, gấp đôi thời gian của họ mà dân vẫn đói khổ, có người mẹ trẻ phải tự tử vì nghèo đói không nuôi nổi con. Trẻ con miền núi nhịn đói, mùa đông chỉ có manh áo mỏng đi học trong những lớp học rách nát như cái lều vịt, cháu có biết không? Có thể cháu có hai, ba bằng đại học, cháu đi làm lương tháng vài chục triệu đồng nhưng lớp trẻ như cháu cả thì đất nước nguy khốn quá cháu ạ. Tôi nói thế và chờ nghe cậu thanh niên phản ứng, nhưng im lặng giây lát rồi cậu ta bỏ đi.

Thấy anh Phan Đắc Lữ đi một mình, tôi liền vẫy anh lại. Tôi và anh Phan Đắc Lữ đã ngồi ở chiếc ghế gang trong vườn cây phía trái trước dinh Độc Lập hơn nửa tiếng. Đến tám giờ rưỡi, giờ hẹn của buổi sinh hoạt Quyền Con Người, chúng tôi đi sang vườn cây bên kia đường, nơi tập trung đông bạn trẻ. Nhưng đông hơn cả là những sắc áo công cụ nhà nước: Cảnh sát cơ động. Cảnh sát giao thông. Thanh niên xung phong. Dân phòng. Thanh tra xây dựng...

Ngày chủ nhật mà nhân viên vườn cây xả nước lênh láng những lối đi, phun ướt hết ghế ngồi nhưng các bạn trẻ vẫn rải báo ngồi kín gờ xi măng hai bên lối đi trong vườn cây. Nhân viên vườn cây lại giở trò đốn hạ cành cây, lấy cớ xua đuổi các bạn trẻ khỏi khu vực cành cây sẽ rơi xuống. Tôi liền nói to: Này các anh. Ngày thường sao các anh không làm? Chủ nhật, người dân đến vườn hoa nghỉ ngơi, các anh lại giở trò phun nước, chặt cây để xua duổi dân là sao? Nhà nước khốn quẫn quá rồi nên phải giở trò thô thiển, lộ liễu, hèn hạ đối phó với dân. Các nhân viên vườn cây biết rằng việc họ làm là bất thường nhưng làm theo lệnh nên họ cứ im lặng làm.

Chợt tôi chú ý đến người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, da đen xạm, mặc đồ dân sự đứng cạnh tôi. Tay cầm bộ đàm, ông đưa lên miệng, nói: Cơ động di chuyển sang bên kia đường! Cơ động di chuyển sang bên kia đường! Tôi nhìn sang bên kia đường, nơi quần tụ khá đông người nhưng vẫn yên tĩnh. Cảnh sát 113 di chuyển đến khá đông dưới lòng đường. Bỗng trên hè đường, ngay cạnh chỗ cảnh sát 113 tập trung, lộn xộn xảy ra. Thanh niên xung phong, dân phòng, thanh tra xây dựng xô vào một điểm, nhấp nhô, xô đẩy. Những nắm đấm vung lên. Những dùi cui phóng xuống.

Khi tôi và anh Phan Đắc Lữ đến chỗ xảy ra lộn xộn, mọi việc đã yên. Mấy chậu hoa đặt mép vỉa hè đổ nghiêng xuống lòng đường. Bên mép đường, một thanh niên xung phong mở chiếc túi ni lông đen, lôi những tập giấy trong túi ra, xé vụn. Mọi người cho tôi biết Nguyễn Hoàng Vi và hai bạn trẻ đi với Vi vừa bị bắt ở đây và chiếc túi ni lông đen đựng những tập giấy viết về Quyền Con Người là của nhóm Nguyễn Hoàng Vi.

Khát vọng Quyền Con Người đã bị bắt đi và lời văn Quyền Con Người đang bị xé vụn!○

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012

Thượng tôn pháp luật và thực thi nhân quyền


Quang Trung

Bất kỳ xã hội nào được quản trị bằng nguyên tắc thượng tôn pháp luật (rule of law)[i] cũng đòi hỏi phải có sự thừa nhận tính chất tối cao của pháp luật và đòi hỏi một nhận thức rằng tất cả mọi cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật. Các nhận thức này không chỉ có nghĩa là bản thân pháp luật phải tuân thủ nguyên tắc tối cao nhằm bảo vệ nhân quyền mà còn có nghĩa rằng chính bản thân các cơ quan, tổ chức và nhân viên của nhà nước, chính phủ cũng phải bị ràng buộc trách nhiệm trước pháp luật. Chỉ như thế, nhân quyền mới có thể được bảo vệ một cách hợp pháp và các biện pháp sửa chữa các xâm hại nhân quyền mới có thể tồn tại và công hiệu.

Thiếu vắng thượng tôn pháp luật, người dân sẽ thường xuyên phải sống trong sự bấp bênh, sợ hãi do thiếu một an ninh tối thiểu cho cuộc sống bình thường.

Photo: Rex Features/The Guardian
Hệ thống đảm bảo công lý trong một xã hội chính là yếu tố quyết định cho sự hiện diện và hiệu lực của thượng tôn pháp luật. Hệ thống đó bao gồm ba bộ phận (thiết chế): cảnh sát (police), kiểm sát (công tố, prosecution) và các cơ chế, chức năng tư pháp (judiciary)[ii]. Sự vận hành của các chức năng đó sẽ ảnh hưởng tới sự đáp ứng của hệ thống bảo vệ công lý trước nhu cầu của xã hội. Nếu hệ thống đó có khả năng đáp ứng một cách thỏa đáng thì nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong xã hội đó đã được thực thi hiệu quả.

Có thể nói thượng tôn pháp luật và nhân quyền là hai mặt của một đồng xu. Nếu thượng tôn pháp luật được bảo đảm thì nhân quyền được bảo vệ. Ngược lại, khi nhân quyền thiếu hụt hay bị chà đạp thì tức là thượng tôn pháp luật đã bị lơ là hoặc bị gạt bỏ. Nói cách khác, nếu cổ xúy nhân quyền hay cam kết nhân quyền mà không thực thi tinh thần thượng tôn pháp luật thì đó chỉ là những cổ xúy suông hoặc chỉ là những cam kết dối trá, lừa bịp. Vì vậy, cuộc đấu tranh để giành lấy nhân quyền không thể tách rời cuộc đấu tranh xây dựng một xã hội tôn trọng và thực thi thượng tôn pháp luật. Tinh thần này cũng được thể hiện qua phát biểu của ông Tổng thư ký Liên hợp quốc, Kofi Annan, vào ngày 21/09/2004:

“Chúng ta phải bắt đầu từ một nguyên tắc nền tảng rằng không có ai ở trên pháp luật và không có ai không được pháp luật bảo vệ. Tất cả mọi quốc gia đã tuyên bố thực thi thượng tôn pháp luật ở trong nước thì buộc phải tôn trọng nguyên tắc này ở ngoài nước và mọi quốc gia đã khẳng định thực thi ở ngoài nước thì buộc phải tuân thủ ở trong nước. Đúng vậy, thượng tôn pháp luật phải bắt đầu ngay từ mỗi quốc gia.”[iii]

Vai trò của cảnh sát

Nhân quyền chỉ có thể được bảo vệ khi thượng tôn pháp luật được thực thi thường trực và phổ biến, do đó luôn có một liên hệ khăng khít giữa thái độ của lực lượng cảnh sát với tình trạng vi phạm nhân quyền trong một xã hội. Nếu cảnh sát từ chối ghi nhận, lập hồ sơ về các khiếu nại, phàn nàn về hối lộ, sách nhiễu, nếu cảnh sát lại tạo ra các cáo buộc vu khống cho người khác hoặc nếu cảnh sát lại đe dọa tính mạng, tự do của những người muốn đấu tranh vì công lý thì tức là cảnh sát không chỉ đang xâm hại các nhân quyền của công dân mà còn đang biến cả hệ thống bảo vệ công lý thành một hệ thống lừa dối, vi phạm nhân quyền.

Bổn phận hàng đầu của cảnh sát phải là ngăn chặn, điều tra tội ác và bảo vệ các quyền của công dân trong sự tuân thủ nghiêm ngặt đúng theo pháp luật. Việc không thực hiện các bổn phận này chính là một nguyên nhân lớn của các vi phạm nhân quyền và chính là một tội ác.

Bắt giữ, giam cầm trái phép và tra tấn người dân là những biểu hiện thường thấy của vi phạm nhân quyền trong giới cảnh sát. Ngoài ra, giới cảnh sát còn vi phạm nhân quyền bằng cách không tuân thủ qui trình pháp lý, cố ý làm sai lệch hồ sơ để che giấu tội phạm của chính bản thân hoặc của các thân hữu, kẻ mua chuộc. Biết và hiểu được các vi phạm nhân quyền thường có của giới cảnh sát cũng tức là để người dân hoặc chính giới cảnh sát có thể phòng ngừa, đấu tranh hữu hiệu chống lại các vi phạm nhân quyền của giới cảnh sát.

Một trong những bước đầu tiên và dễ dàng nhất để dân chúng đấu tranh với các vi phạm nhân quyền của giới cảnh sát là thu thập dữ liệu, lập hồ sơ một cách đầy đủ và hệ thống về các vụ việc lạm dụng, xâm phạm quyền công dân của giới cảnh sát và công khai các dữ liệu đó cho công luận biết. Cho dù việc lập dữ liệu, hồ sơ hệ thống, công khai không thể có hiệu quả ngay trong việc ngăn chặn, trừng phạt các xâm phạm nhân quyền của giới cảnh sát nhưng nó có tác dụng rất tốt trong việc cảnh báo các nhân viên cảnh sát và người thân của họ về những hành vi gây tội ác đối với con người đồng thời sẽ có tác dụng lâu dài trong việc huy động sự đoàn kết, ủng hộ của xã hội trong cuộc đấu tranh chung chống lại các vi phạm nhân quyền.

Vai trò của kiểm sát

Cơ quan kiểm sát là cơ quan có trách nhiệm đảm bảo mọi pháp luật phải được thực thi một cách đúng đắn và đầy đủ. Khi có bất cứ điều luật nào bị xâm phạm hoặc có bất kỳ tội ác nào xảy ra, kiểm sát phải đảm bảo qui trình điều tra, tìm hiểu được diễn ra theo đúng các trình tự do pháp luật qui định và đảm bảo cuối cùng công lý phải được thực hiện. Vai trò của cơ quan kiểm sát đặc biệt quan trọng khi pháp luật bị xâm hại bởi chính các nhân viên thực thi pháp luật, các viên chức chính phủ - những người được giao nhiệm vụ bảo vệ các quyền công dân.

Do đó, để cơ quan kiểm sát có thể đảm bảo cho pháp luật luôn được tuân thủ, cơ quan này buộc phải là một thiết chế độc lập, đặc biệt không được liên đới, chịu điều khiển hay bị ràng buộc với các tổ chức chính trị, cơ quan nhà nước hay các cơ quan tố tụng khác.

Các kiểm sát viên (công tố viên) bắt buộc phải độc lập - không chịu sự điều khiển hay ảnh hưởng của bất kỳ một đảng phái hay tổ chức xã hội nào - và phải không thiên vị (trung lập) – không được là thành viên của bất kỳ đảng phái hay nhóm, tổ chức xã hội nào và chỉ phán xét dựa theo pháp luật và lương tâm. Tính chất độc lập và không thiên vị (trung lập) của họ đặc biệt quan trọng và cần thiết trong những vụ việc xâm phạm pháp luật do lực lượng thực thi pháp luật hay các viên chức chính phủ gây ra. Khi kiểm sát viên (công tố viên) không còn giữ được tính chất độc lập và không thiên vị (trung lập), điều đó đồng nghĩa với việc họ sẽ là những người có khả năng rất lớn trong việc lạm dụng, phá hoại pháp luật.

Điều tra tội phạm và thu thập chứng cứ là những chức năng tối quan trọng để có thể truy tố được thủ phạm. Vì vậy, cơ quan kiểm sát không chỉ phải độc lập mà còn phải có trách nhiệm và đủ khả năng giám sát nghiêm ngặt quá trình điều tra một vụ việc – thường, trước tiên, do cảnh sát tiến hành.

Vì cảnh sát thường là lực lượng điều tra trước tiên, một chức năng quan trọng khác của kiểm sát là phải đảm bảo nếu có sự đe dọa chống lại nạn nhân và người làm chứng thì những kẻ đe dọa phải bị trừng phạt.

Chỉ cần nhìn vào mức độ độc lập và khả năng, trách nhiệm của một cơ quan kiểm sát có thể khẳng định được mức độ tôn trọng, tuân thủ nguyên tắc thượng tôn pháp luật của một thể chế chính trị.

Vai trò của tư pháp[iv]

Hệ thống tư pháp là nơi cuối cùng công dân có thể tìm đến để kêu cứu công lý, đặc biệt trong trường hợp các cơ quan hay nhân viên nhà nước vi phạm quyền của họ. Vì vậy, nếu một hệ thống tư pháp không quan tâm tới nhân quyền và/hoặc tham gia vào việc lạm dụng quyền lực thì đó là một trở ngại hết sức nghiêm trọng đối với việc thực thi nhân quyền trong một xã hội.

Do đó, hệ thống tư pháp cũng cần phải độc lập. Tính chất độc lập của hệ thống tư pháp bắt nguồn từ triết lý phân chia quyền lực (separation of powers): tam quyền phân lập giữa ba nhánh quyền lực cơ bản của một nhà nước (hành pháp, lập pháp và tư pháp). Ba quyền lực đó phải được tách rời theo nghĩa không được để cho một lực lượng duy nhất nào khống chế, chỉ đạo hay ảnh hưởng trong quá trình thiết lập quyền lực và thực thi quyền lực, cũng như không được để ba quyền lực đó câu kết với nhau trong việc ra quyết định. Nguyên tắc này cho phép tạo ra một hệ thống (cơ chế) có tính chất “kiểm soát và cân bằng” (checks and balances) thường trực và tự động để ngăn chặn, giảm thiểu mọi lạm dụng quyền lực rất có thể và rất thường xảy ra đối với các cá nhân và các cơ quan nắm quyền lực công.

Sự phân quyền và tính chất độc lập đó là nền tảng cơ bản tối thiểu để có một hệ thống tư pháp hữu hiệu trong việc duy trì và bảo vệ thượng tôn pháp luật và nhân quyền. Không có thượng tôn pháp luật sẽ không có thực thi nhân quyền.

Trong bất cứ xã hội hiện đại nào, vai trò của hệ thống tư pháp cũng là việc bảo vệ nhân quyền bằng cách đảm bảo cho mọi vụ việc tố tụng được diễn ra đúng qui trình pháp luật (due process) và đạt được các giải pháp sửa chữa các vi phạm pháp luật, các vi phạm nhân quyền một cách kịp thời và hiệu quả. Vai trò này chỉ có thể được thực hiện bằng sự vận hành hoàn toàn độc lập của hệ thống tư pháp, với các quyết định chỉ dựa trên hai trụ cột: các nguyên tắc pháp luật và sự phán xét duy lý không thiên vị.

Tính chất độc lập hệ trọng của tư pháp đòi hỏi hệ thống này phải có khả năng hoạt động thoát khỏi mọi ảnh hưởng của chính phủ hoặc các cơ quan khác thuộc hệ thống quyền lực công. Đòi hỏi này thường cần phải được minh định rõ ràng trong hiến pháp hoặc trong các văn bản pháp luật khác.

Đồng thời với tính chất độc lập của toàn hệ thống, các thẩm phán cũng phải được đảm bảo khả năng độc lập trong khi thực thi trách vụ. Hai tính chất độc lập này có mối quan hệ gắn chặt gần như đồng thuận với nhau. Nếu hệ thống tư pháp không độc lập thì rất ít cơ may để có các thẩm phán hoạt động độc lập.

Cả hai tính chất độc lập vừa kể nhằm tạo cho và đòi hỏi các thẩm phán một khả năng đảm bảo các thủ tục tư pháp luôn được thực thi một cách công bằng và quyền lợi của tất cả các bên liên quan luôn được xem xét và tôn trọng như nhau.

Cả hai tính chất độc lập nói trên cũng nhằm bảo đảm để hệ thống tư pháp luôn bị buộc trách nhiệm trước dân chúng. Điều này hết sức hệ trọng đối với các thành viên cao cấp của hệ thống tư pháp như chánh án tối cao hoặc những chánh án của các tòa án cao nhất của một vùng.

Cách thức bổ nhiệm hay kỷ luật các nhân viên của hệ thống tư pháp cũng có ảnh hưởng hết sức hệ trọng tới phẩm chất của hệ thống tư pháp. Việc bổ nhiệm, đề bạt, bãi nhiệm hay kỷ luật các thẩm phán chỉ được dựa trên ba (03) yếu tố: phẩm chất nghề nghiệp, uy tín và liêm chính cá nhân. Ngoài ra không được dựa vào bất cứ yếu tố, ảnh hưởng nào khác để đánh giá phẩm chất các thẩm phán, các nhân viên tư pháp. Những cơ sở đó cũng phải được áp dụng y hệt trong việc cung cấp phương tiện, điều kiện làm việc (vật chất, tài chính, tinh thần) và đảm bảo ổn định chức vụ cho các nhân viên tư pháp. Chỉ khi đó các nhân viên tư pháp, các thẩm phán mới có thể yên tâm thực thi trách vụ, phán xét công lý chỉ dựa vào pháp luật và lý trí cùng lương tâm không thiên vị.

Một khác biệt cơ bản trong các thể chế chính trị trên thế giới hiện nay không phải ở vấn đề có hay không có sự hiện diện của hệ thống tư pháp mà là ở mức độ và việc có hay không có tính chất độc lập của hệ thống hết sức hệ trọng này.

Cam kết

Một biểu ngữ do chính quyền treo tại Hà Nội 
ngày 09/12/2012
Vào ngày 10/12/1948 loài người lần đầu tiên đã có một tuyên bố chung về các quyền con người – nhân quyền – cơ bản. Đó là Tuyên ngôn toàn Thế giới về Nhân quyền của Liên hợp quốc.[v]

Ngày hôm nay, gần như tất cả các chính quyền trên thế giới đều đã phải tự cam kết chấp thuận và thực thi Tuyên ngôn toàn Thế giới về Nhân quyền. Không có một chính quyền nào phản đối việc thực thi nhân quyền.

Nhưng muốn có nhân quyền và muốn nhân quyền được thực thi, bảo vệ thì không thể từ chối xây dựng một nhà nước có nền tảng thượng tôn pháp luật. Muốn có thượng tôn pháp luật không thể từ chối việc chấp nhận một hệ thống tư pháp, kiểm sát và cảnh sát phải độc lập tối thiểu với tất cả các đảng chính trị, đặc biệt là đảng đang cầm quyền. Nếu những qui luật tất yếu này không được chấp nhận thì tất cả mọi cam kết rõ ràng nhất, hùng hồn nhất trong việc thực thi nhân quyền đều chỉ là những ngôn từ mỵ dân, lừa dối.○





[i] Rule of law: đây là một thuật ngữ trong lĩnh vực pháp lý và quản lý nhà nước theo cách dân chủ, có nguồn gốc từ phương Tây, đặc biệt trong các nước sử dụng Anh ngữ. Thuật ngữ này nhằm nói đến một hệ thống nhiều ý niệm với tinh thần cốt lõi là coi pháp luật là tối cao. Có nhiều cách dịch rule of law ra tiếng Việt. Trong bài viết này chúng tôi chọn cách dịch là “thượng tôn pháp luật”.

[ii] Thực ra trong đa phần các cấu trúc tư pháp (judiciary) của hệ thống nhà nước dân chủ đã bao gồm cả chức năng “công tố” (kiểm sát). Ở đây chúng tôi muốn tách rõ hai bộ phận “công tố” (kiểm sát) và “tư pháp” ra một cách riêng rẽ để cho dễ hiểu hơn đối với những độc giả chưa quen với các vấn đề tổ chức nhà nước hiện đại, nhất là cách phân chia này lại dễ so sánh với hệ thống hiện tồn ở Việt Nam.


[iii] “We must start from the principle that no one is above the law, and no one should be denied its protection. Every nation that proclaims the rule of law at home must respect it abroad; and every nation that insists on it abroad must enforce it at home. Yes, the rule of law starts at home.” - New York, 21 September 2004 - Secretary-General's address to the General Assembly.


[iv] Tư pháp: ở đây chủ yếu nói đến các tòa án và các thẩm phán cùng các nhân viên có chức năng tương đương.

[v] Quí vị cũng có thể xem toàn văn Tuyên ngôn dưới dạng pdf tại đây.

Thứ Năm, 26 tháng 7, 2012

Về phiên tòa xử ba thành viên Câu lạc bộ Nhà báo tự do. The imminent trial of the Club of Free Journalists.


(Bilingual)

Về phiên tòa xử ba thành viên Câu lạc bộ Nhà báo tự do, ông Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), bà Tạ Phong Tần, ông Phan Thanh Hải (Anh Ba Saigon).

Theo một trao đổi vừa mới thực hiện với Luật sư Hà Huy Sơn-đại diện pháp lý, người sẽ bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày) - chúng tôi được biết:

Quyết định xét xử đã ghi rõ:

  1. Ngày mở phiên tòa (sơ thẩm): 08h ngày 07/08/2012 tại Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh 131 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Nghé, Quận I.
  2. Thành phần tham gia tố tụng:
Chủ tọa phiên tòa: Thẩm phán Vũ Phi Long.
Hội thẩm nhân dân: Bùi Quang Việt, Đặng Phi Công.
Thư ký phiên tòa: Hà Đình Lăng.
Kiểm sát viên: Nguyễn Quang Vinh.
Cùng ba bị cáo: Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải và những luật sư bào chữa, đại diện pháp lý cho các bị cáo.
“Người  làm chứng”: (để trống)

  1. “VỤ ÁN ĐƯỢC XÉT XỬ CÔNG KHAI”.
Như vậy việc người dân, bất kể ai (là người thân hay không thân), đều có quyền được tự do tham dự (chứng kiến) phiên tòa này là điều đương nhiên, vì đó là PHIÊN TÒA CÔNG KHAI.

Việc đến tham dự phiên tòa không chỉ là sự biểu tỏ ủng hộ những người đã dấn thân cho tự do của đất nước, một hành động góp phần bảo vệ pháp luật mà còn là một sự thực hành thiết thực, một xác quyết quyền tự do đã được luật pháp qui định.


Photo: http://danlambaovn.blogspot.com/ 

The imminent trial of Mr. Nguyen Van Hai (aka Dieu Cay), Ms. Ta Phong Tan and Mr. Phan Thanh Hai (aka AnhBaSaigon), members of the Club of Free Journalists:

According to Lawyer Ha Huy Son, the legal representative of the accused Nguyen Van Hai (aka Dieu Cay), the decision to hold a trial states:

  1. The hearing will begin at 08:00 am on August 07, 2012 in People’s Court of Ho Chi Minh City at 131 Nam Ky Khoi Nghia, Ben Nghe Precinct, District I, Ho Chi Minh City.
  2. Participants in legal proceedings:
-          Chairman of the trial: Judge Vu Phi Long
-          Lay assessors: Bui Quang Viet, Dang Phi Cong.
-          Clerk: Ha Dinh Lang.
-          Prosecutor: Nguyen Quang Vinh.
-        Accused: Nguyen Van Hai, Ta Phong Tan, Phan Thanh Hai along with their legal representatives.
-          Witnesses: (NA)
3. The hearing will be held PUBLIC

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

Quan điểm mới trong hợp tác phát triển của Thụy Điển

Quan điểm mới trong hợp tác phát triển của Thụy Điển (1)

Lời người dịch: Thụy Điển là một dân tộc nhỏ (hiện chỉ có khoảng 9 triệu dân) và ở một nơi rất lạnh (miền nam Thụy Điển có nhiệt độ thấp nhất trong mùa hè vào khoảng 12°C-15°C). Nhưng chỉ hai sự kiện liên quan tới Việt Nam cũng đủ cho thấy Thụy Điển là một dân tộc nhỏ mà không bé, đất nước rất lạnh mà tình người ấm nồng. Năm 1969, Thụy Điển đã một mình đi ngược lại chính sách phong tỏa, cấm vận của cả khối tư bản để thiết lập quan hệ và trợ giúp cho Việt nam Dân chủ Cộng hòa – một quốc gia tận tụy trong khối cộng sản. Nhưng khác với những người “anh lớn”, Liên-xô, Trung quốc, của Việt nam Dân chủ Cộng hòa, Thụy Điển chỉ giúp những phương tiện hòa bình (bệnh viện dân sự, nhà máy giấy,...) và vẫn luôn bên cạnh nhân dân Việt nam ngay cả trong những đêm đối đầu khốc liệt giữa các dàn tên lửa SAM-II của Liên xô và máy bay B52 của Mỹ. Thế mà nay, trong hoàn cảnh thời bình, Thụy Điển lại quyết định đóng cửa Đại sứ quán sau hơn 40 năm hiện diện liên tục tại Hà nội. Lý do nào đã khiến Thụy Điển có quyết định này? Liệu đó có phải chỉ là “chuyện nội bộ” của Thụy Điển như câu trả lời ráo hoảnh của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt nam? Đó chắc vẫn là câu hỏi còn ngậm ngùi trong lòng nhiều người dân Việt nam. Hy vọng, bài phát biểu mới đây (07/03/2011) của bà Bộ trưởng Bộ Hợp tác Phát triển Quốc tế của Thụy Điển tại Trường Kinh tế London, sẽ đem lại cho người Việt chúng ta hiểu thêm về quyết định đóng cửa Đại sứ quán Thụy Điển tại Hà nội. Xin trân trọng giới thiệu tới quí vị:
Thưa Giáo sư Mkandawire, thưa các quí bà, quí ông và các bạn,
Tôi cảm thấy vinh hạnh khi được chia sẻ những suy nghĩ của mình về các vấn đề hợp tác phát triển, nhân quyền và dân chủ trước một cử tọa hết sức uyên bác ngay tại Trường Kinh Tế London nổi tiếng về sự xuất sắc trong học thuật và khắt khe trong nghiên cứu.
Dĩ nhiên, chúng ta sẽ không thể nào nói về mối quan hệ giữa phát triển, dân chủ và nhân quyền mà lại không nhắc tới các sự kiện đang gây ra những thảo luận tại Brúc-xen – nước láng giềng phương Nam của chúng tôi.
Với cương vị là Bộ trưởng về các vấn đề Hợp tác Phát triển Quốc tế, tôi đã được gặp nhiều nhân vật mà sự khát khao tự do của họ lớn tới mức đã khiến họ dám đứng lên đòi hỏi các giá trị dân chủ, nhân quyền ngay cả trong những thời khắc khó khăn và nguy hiểm cực độ.
Những cuộc nổi dậy của người dân đang diễn ra tại Trung Đông và Bắc Phi là một chứng thực lớn chưa từng có cho những khát vọng của nhân dân ở những nơi đó. Khát vọng phải được tôn trọng về quyền làm người, về tự do và dân chủ, khát vọng được phát triển, được lớn mạnh hơn nữa.
Các cuộc nổi dậy đó đang nhắc lại cho chúng ta rằng nhân quyền là các quyền có tính phổ quát toàn nhân loại. Tôi không dám giấu các quí vị rằng đôi khi tôi thấy rất khó chịu khi nghe người ta ngụ ý là có sự mâu thuẫn giữa dân chủ và phát triển, hoặc giữa nhân quyền và phát triển. “Nhưng chắc chắn,”, một số người lại sẽ nói với tôi, “nếu bà phải chọn giữa cơm áo cho gia đình và quyền bầu cử thì bà sẽ phải chọn cơm áo thôi.” Lối lập luận như thế dĩ nhiên là hoàn toàn vô lý. Vì không có lý do gì để cho rằng sự sung túc về vật chất và các quyền chính trị buộc phải loại trừ lẫn nhau vì một cớ nào đó. Tất cả những chứng cứ đang hiển hiện đều chỉ cho ta thấy điều ngược lại.
Đó chính xác chỉ là loại lý luận muốn mớm cho chúng ta từ những nhà lãnh đạo chuyên chế - những kẻ đang cố bấu víu quyền lực và đang cầu xin chúng ta trợ giúp dưới danh nghĩa của sự ổn định. “Vâng,”, họ sẽ nói với các nhà tài trợ, “chúng tôi hiện không có dân chủ theo nghĩa như ở phương Tây nhưng xã hội của chúng tôi vẫn chưa sẵn sàng cho điều đó. Các ngài phải cho chúng tôi thêm thời gian để phát triển chứ. Đầu tiên, chúng tôi phải cho người dân ăn cái đã.”
Kiểu biện hộ thứ hai cho việc tiếp tục cắt xén các quyền tự do dân sự của người dân là sự ám chỉ việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người chỉ là quan niệm thuần của “phương Tây” thôi, rất không phù hợp với thực tế khó khăn của quốc gia đang bị xem xét.
Một điều thường làm tôi kinh ngạc là một số người ngay ở phương Tây lại tỏ ra sốt sắng chấp nhận cái kiểu lý luận đó. Họ chính là những người sẽ nói với quí vị rằng chúng ta nên cẩn thận khi lên tiếng quá mạnh về vấn đề nhân quyền ở các nước đang phát triển. Cách nhấn mạnh đó sẽ phản tác dụng, chúng ta nên tránh để không bị xem là đang lên lớp cho người khác. Và họ còn thường cho rằng vì quá khứ đô hộ thuộc địa của châu Âu trước đây mà chúng ta không có đủ uy tín để nói đến vấn đề nhân quyền.
Tôi xin nói rõ hơn về điểm này. Tôi chưa bao giờ gặp bất kỳ một nhà hoạt động nhân quyền nào ở châu Phi lại thúc giục tôi nói nhẹ đi về nhân quyền hay nói rằng quyền tự do ngôn luận hay tự do hội họp là các quan niệm của châu Âu, hoàn toàn xa lạ đối với châu Phi.
Như vậy, bổn phận đạo đức rõ ràng của chúng ta hiện nay là phải đứng về phía những người bị bức hại vì quan điểm chính trị. Không thể nào chấp nhận được những lý luận sai trái của các chính quyền đang tống giam những con người dũng cảm chỉ vì họ có những quan điểm chính trị khác biệt.
Bảo vệ, ủng hộ những giá trị châu Âu đúng nghĩa phải có nghĩa là đứng về phía những người bị áp bức, chứ không phải những kẻ áp bức.
Các biến động về dân chủ đang làm thay đổi bối cảnh chính trị. Sẽ có người cho rằng đó là biểu hiện của sự chấm dứt ổn định. Thật là một nhầm lẫn ngây thơ. Như thế thì khác nào coi một chế độ phi dân chủ như chế độ của tay Đại tá Gaddafi ở Lybia cũng là thể hiện của sự ổn định tự thân theo một nghĩa nào đó. Những gì mà chúng ta đang chứng kiến hôm nay là tiến trình hy vọng sẽ mang lại những điều kiện cần cho sự ổn định thực sự - loại ổn định chỉ có thể gắn liền với các xã hội tự do.
Chúng ta có bổn phận phải trợ giúp những người đang mạo hiểm cuộc đời họ vì những giá trị mà chúng ta đang tận hưởng và đối với chúng ta các giá trị đó đã trở thành những điều hết sức bình thường. Vì vậy, những gì đang diễn ra ở Bắc Phi là tiếng kêu cứu mạnh mẽ đòi hỏi các chính phủ, các nhà tài trợ phải phối hợp với nhau và cùng nhau cam kết thực sự cho việc thúc đẩy dân chủ, nhân quyền. Những gì chúng ta đang thấy hôm nay chỉ là kết quả từ sự quyết đoán của những con người dũng cảm, với sự hỗ trợ rất hạn chế từ bên ngoài hoặc chả được trợ giúp gì cả. Ở Tunisia và Ai cập, người dân đã tự loại bỏ được các chế độ độc tài bằng những cách khá ôn hòa. Thật đáng khâm phục và kính trọng!
Những diễn biến ở Bắc Phi cũng cho chúng ta thấy việc tiếp cận được với các công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại và các mạng truyền thông xã hội có thể mở ra cho các công dân những cơ hội gây ảnh hưởng đối với xã hội và đòi hỏi các lãnh đạo phải có trách nhiệm hơn. Chúng ta đã thấy các công cụ của công nghệ thông tin và truyền thông (CNTTTT)(2) đang đem lại tiềm năng để hiện đại hóa các nỗ lực phát triển của mình một cách hết sức rõ ràng. Đặc biệt, các công cụ đó cũng có thể dùng để cổ xúy cho dân chủ, nhân quyền; để tạo ra các nguồn thông tin độc lập; để buộc các nhà lãnh đạo phải chịu trách nhiệm với các công dân của họ; giúp nối kết giữa người dân với nhau, cả ở trong nước lẫn ngoài nước; là một phương tiện để lật tẩy tham nhũng, nhanh chóng và khá an toàn. Đối với tôi, đó là công nghệ của giải phóng, là biểu tượng của một thế giới đang thay đổi theo một chiều hướng không thể đảo ngược.
Số người dùng Internet đã tăng gấp đôi trong khoảng 2005-2010 và vừa vượt qua mốc 2 tỷ người. Tuy nhiên, sự chênh lệch kỹ thuật số giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển còn khá lớn – 71% so với 21% dân số có thể lên mạng. Vì vậy, thăm dò, tìm hiểu và đầu tư vào CNTTTT phải được coi là công cụ cơ bản để gia tăng tính mở và minh bạch cho thế giới. Các tổ chức dân sự và các nhà hoạt động nhân quyền đang cần các hệ thống không dây, các hệ thống mạng bảo đảm tính trung lập và khả năng có thể truy cập được Internet.
Nhưng, một số quốc gia lại đang hạn chế hay cấm các công dân của họ được tiếp cận với Internet – đây chính là các lỗ hổng của Internet. Ở phần lớn các quốc gia kiểu đó, việc bày tỏ chính kiến qua Internet là một tội hình sự và sự bức hại những người có tư tưởng cải cách qua Internet đang ngày càng gia tăng.
Vì vậy, một trong những thách thức chính của chúng ta hôm nay là phải làm thế nào để có thể đưa các nhà hoạt động dân chủ lên danh sách cần trợ giúp hàng đầu, phải tìm hiểu các cách sử dụng các công cụ sáng chế mới thích ứng với các giai đoạn đầu của quá trình thay đổi và chuyển đổi sang dân chủ.
Tuy nhiên, các tranh luận trong các quốc gia dân chủ hiện nay lại chỉ chú tâm đến các vấn đề có tính vĩ mô về ngoại giao và chính trị. Do đó, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm trong các chương trình trợ giúp dân chủ ở mức độ vi mô. Lịch sử đang chỉ cho chúng ta thấy rằng phản ứng của quốc tế một cách kịp thời là yếu tố tối quan trọng để giúp thuận lợi nghiêng hẳn sang các nhà cải cách dân chủ.
Vì vậy, để bổ khuyết cho sự trợ giúp dân chủ có tính truyền thống của mình, Chính phủ Thụy Điển đã bắt đầu một dự án có tên là Sáng kiến Đặc biệt cho Dân chủ hóa và Tự do Ngôn luận. Dự án này nhằm tạo ra cơ hội để trợ giúp nhanh hơn các nhà hoạt động nhân quyền và các nhân tố có lợi cho sự chuyển đổi dân chủ bằng những cách thức mới và trực tiếp hơn, nhất là để tận dụng các cơ hội bất ngờ cho sự thay đổi dân chủ.
Cách đây vài tuần tôi đã mời một số nhà nghiên cứu, một số nhà hoạt động trên Internet và một số doanh gia về CNTTTT đến Stockholm để thảo luận về việc làm thế nào để CNTTTT có thể tạo ra được tự do và các cách thức điều chỉnh để các trợ giúp phát triển của chúng ta phù hợp hơn với thực tế hiện nay. Tôi sẽ còn gặp lại họ vào thứ Năm này để bàn sâu hơn về cách thức triển khai các nỗ lực trợ giúp nhằm thúc đẩy quá trình dân chủ hóa bằng các công cụ kỹ thuật số và kỹ thuật số hóa mang tính dân chủ sao cho hiệu quả và hiệu suất nhất có thể.
Đối với riêng tôi thì Dân chủ là sự thay đổi. Nhân quyền là Tự do. Tôi thực sự mong muốn được nhìn thấy sự thay đổi vì tự do trong thế giới này.
Thay đổi vì Tự do cũng là cái tên, vào năm ngoái, được đặt cho chính sách của Thụy Điển đối với dân chủ và nhân quyền trong quá trình hợp tác phát triển quốc tế.
Trong chính sách đó, chúng tôi nhấn mạnh ba vấn đề sau đây: một, tầm quan trọng của trợ giúp đối với dân chủ và nhân quyền để giảm nghèo; hai, sự quan trọng của chủ nghĩa đa nguyên như điểm khởi đầu cho mọi phát triển kinh tế-xã hội, và ba là sự minh bạch là một công cụ để dân chủ hóa.
Dân chủ hóa và tự do là hai mặt cốt yếu của sự phát triển và phạm trù quyền con người cần phải được gắn liền với mọi nỗ lực hợp tác phát triển của chúng ta. Cùng với nguyên tắc nhà nước pháp quyền, sự tôn trọng các quyền dân sự và chính trị phải được coi là yếu tố quyết định trong quá trình xây dựng các hệ thống dân chủ có khả năng vận hành và giảm đói nghèo trên tất cả mọi phương diện.
Nghèo đói không chỉ là tình trạng thiếu thốn các phương tiện vật chất. Đó còn là tình trạng thiếu thốn về quyền lực, cơ hội và an ninh. Đó còn là việc người dân thiếu ảnh hưởng đối với chính cuộc đời của mình. Tôi muốn nhấn mạnh lập trường này như một điểm khởi đầu quan trọng cho những tham vọng của Thụy Điển trong các chương trình hợp tác phát triển quốc tế trong tương lai nói chung và trong các hỗ trợ về dân chủ và nhân quyền, nói riêng.
Khi người dân sống trong nghèo đói mà lại bị từ chối quyền lên tiếng một cách tự do, bị tước bỏ quyền gây ảnh hưởng hay quyền thay đổi điều kiện sống của mình hoặc không được quyết định đối với các vấn đề của cộng đồng, và đất nước mình, đó chính là dấu hiệu của nghèo đói. Vì vậy, có nhiều tự do hơn và dân chủ hơn, đó chính là sự giảm nghèo. Đối với chúng tôi, điều đó có nghĩa rằng chống đói nghèo buộc phải tiến hành đồng thời hai vấn đề: đưa đến các nguồn lực vật chất và mang lại các giá trị nhân phẩm, tinh thần cho người dân.
Cách hiểu đa phương diện về đói nghèo này đã được toàn thể Liên hiệp Châu Âu chia sẻ và được ghi rõ trong Chính sách Đồng thuận của Liên hiệp Châu Âu về Phát triển từ năm 2005. Nhưng điều quan trọng nhất là cần phải đảm bảo chắc chắn cho chính sách đó cũng được thể hiện rõ trong các chính sách trợ giúp phát triển của Liên hiệp Châu Âu, hiện nay cũng như tương lai.
Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng các xã hội dân chủ có khả năng tốt nhất trong việc thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng một cách bền vững. Chúng ta đều biết rằng việc bảo vệ nguyên tắc thượng tôn pháp luật, sự bình đẳng trước pháp luật, hay việc giữ gìn các nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường như quyền sở hữu, tự do giao dịch, bảo vệ truyền thông tự do và quyền tự do ngôn luận là những điều kiện tạo cho kinh tế tăng trưởng. Mọi người đều phải có quyền được gặp gỡ, hội họp và lập hội một cách tự do, cũng như phải được an toàn và an ninh để thực hiện các quyền đó.
Phát triển dân chủ khi phối hợp với sự phát triển xã hội sẽ là cách phát triển bền vững hơn, trong đó mọi cá nhân, phụ nữ cũng như đàn ông, đều được thụ hưởng.
Bình đẳng giới là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển dân chủ trong dài hạn. Phụ nữ và đàn ông, em gái và em trai phải có quyền và cơ hội ngang nhau trong việc tự quyết định cuộc đời mình và tạo ảnh hưởng đối với xã hội.
Xã hội không được gạt bỏ bất cứ một giới nào của con người.
Trợ giúp cho dân chủ và nhân quyền không chỉ là cứu cánh tự thân mà còn là phương tiện để gia tăng tính hiệu quả của trợ giúp và tăng cường sức mạnh cho cuộc chiến chống tham nhũng.
Truyền thông độc lập và tự do, hệ thống chính quyền cởi mở và minh bạch, các thiết chế khả hoạt (3) và một xã hội dân sự đa nguyên là những thành phần sống còn để có được một thể chế dân chủ thực sự. Những thành phần đó cũng là những hòn đá tảng cho sự hợp tác phát triển trong thời hiện đại – sự hợp tác đòi hỏi tính trách nhiệm nghiêm túc.
Tính cởi mở và minh bạch giúp gia tăng cơ hội để các công dân giám sát tiền thuế của mình và năng lực điều hành của chính quyền. Chúng ta đều biết rằng tính chịu trách nhiệm được tăng cường có nghĩa là các bộ máy nhà nước sẽ phải đáp ứng tốt hơn các đòi hỏi, nguyện vọng của dân chúng. Về lâu dài, để phát triển bền vững và thiết thực, các nền dân chủ phải mang lại sự lãnh đạo đúng đắn và hiệu quả. Tuy nhiên, các nền dân chủ cũng cần phải thực hiện các hứa hẹn và ban hành các quyết định, đồng thời phải làm cho hệ thống chính trị dân chủ vận hành được. Tôi thấy rất thú vị khi theo dõi sáng kiến gia tăng tính mở của Chính phủ Anh và ngay tại Liên hợp châu Âu, chúng tôi, Andrew Mitchell (4) và tôi, cũng đang cố gắng phấn đấu để đạt được qui chế Minh bạch trong Trợ giúp của Liên hợp châu Âu.
Như quí vị đã thấy, bài nói chuyện của tôi có chủ đề là “Tại sao nhân quyền và dân chủ lại hệ trọng để thoát nghèo?”. Xin quí vị chú ý là bản Báo cáo Phát triển Con người tại vùng Ả-rập năm 2002 đã nhận ra được một cách tiên tri ba lý do chính của tình trạng nghèo khổ ở vùng Trung Đông và Bắc Phi là: một: thiếu dân chủ, hai: giáo dục yếu kém, ba: địa vị lệ thuộc của phụ nữ.
Năm 2004, bản báo cáo cũng nhấn mạnh đặc biệt tới mối liên hệ giữa việc thiếu các quyền tự do và tình trạng kém phát triển. Điều đó cho thấy rõ các vấn đề cho phát triển tại Trung Đông và Bắc Phi nằm ngay trong mối liên hệ giữa dân chủ hóa và phát triển kinh tế.
Cho dù đã có nhiều người được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế, nhưng sẽ không thể có phát triển thực sự nếu nhà nước không đầu tư để người dân được thực hiện các quyền xã hội và kinh tế như giáo dục, y tế, nước sạch, nhà ở và cả các quyền dân sự và chính trị.
Để tạo dựng được dân chủ và phát triển thực sự tại Trung Đông và Bắc Phi, chủ nghĩa đa nguyên phải được thừa nhận trên mọi phương diện, xã hội, chính trị, tôn giáo, giữa truyền thống và hiện đại, giữa thế hệ trẻ và già, giữa các tầng lớp xã hội và giữa các tư tưởng chính trị khác biệt.
Sau cùng, một bài học quan trọng từ những sự kiện đang diễn ra hiện nay là vai trò của các mạng truyền thông xã hội, của các công nghệ mới về thông tin và truyền thông. Các mạng truyền thông xã hội như Facebook, Twitter, tin nhắn và blog đang tạo được thêm một không gian trao đổi thường xuyên cho các công dân, các nhóm người đông đảo của xã hội.
Các mạng truyền thông xã hội cũng cho thấy xã hội dân sự được hình thành bởi các cá nhân, đồng thời các công nghệ thông tin, truyền thông đang mang đến cho họ các công cụ quan trọng để thực hiện các khát khao dân chủ. Chúng ta cũng thấy mạng truyền thông xã hội đang đem đến sự quả cảm và sức huy động cho cả một lục địa trong cuộc đấu tranh vì dân chủ.
Kinh nghiệm chuyển đổi một cách hòa bình của châu Âu từ độc tài sang dân chủ cũng đang là nguồn cảm hứng cho các cá nhân, các phong trào dân chủ ở các nước độc tài khắp thế giới. Do đó, châu Âu đang gánh vác một trách nhiệm đặc biệt trong việc góp phần xây dựng dân chủ ở những nơi khác dựa theo ánh sáng kinh nghiệm của chúng ta. Cụ thể, chúng ta phải có bổn phận đạo đức để thực hiện trách nhiệm đó bằng lịch sử của chính mình.
Đó là niềm tin chắc chắn của tôi, rằng phương diện chính trị trong sự hợp tác phát triển quốc tế phải được chỉ đạo xuyên suốt bằng bổn phận đạo đức này.
Cách tiếp cận của Thụy Điển không chỉ là theo đuổi một chương trình nghị sự toàn cầu về dân chủ và nhân quyền mà còn phải đảm bảo chắc chắn rằng quan điểm phát triển phải được áp dụng cho các vấn đề đó. Đặt ưu tiên cho dân chủ trong quá trình hợp tác phát triển nghĩa là phải thừa nhận bình diện chính trị của sự hợp tác phát triển.
Xin cảm ơn,
Người dịch: Phạm Hồng Sơn.
Các chú thích là của người dịch


(1) Đầu đề này là của người dịch
(2)
Công nghệ thông tin và truyền thông, nguyên ngữ tiếng Anh là Information and communication technology (ICT) thường được dùng như một thuật ngữ mở rộng của IT (Information technology), bao gồm công nghệ thông tin (IT, Information technology) cùng với các phương tiện truyền thông bằng điện thoại, phát thanh và phát hình, tất cả các loại hình nghe - nhìn và truyền tải, và hệ thống mạng dựa trên các chức năng kiểm soát và kiểm tra định lượng.
(3) Nguyên ngữ tiếng Anh là “functioning institutions”: một lần tôi đã dịch là “định chế chức năng”, nhưng sau khi được góp ý và trao đổi cùng ông Mai Thái Lĩnh, tôi sửa lại thành “thiết chế khả hoạt”. Thuật ngữ này (functioning institutions) nhằm nói đến các cơ cấu, tổ chức chính trị hoặc phi chính trị nhưng có khả năng vận hành một cách độc lập và hiệu quả theo đúng tôn chỉ, mục đích đã được công bố chính thức, khác với các cơ cấu, tổ chức chỉ được lập ra có tính hình thức và sự hoạt động của nó lệ thuộc hoàn toàn vào một thế lực nào đó.
(4) Andrew Mitchell là Bộ trưởng Phát triển Quốc tế của Chính phủ Anh.