Hiển thị các bài đăng có nhãn Tranh luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tranh luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2017

Lá cờ ấy không đáng bị xa lánh

Phạm Hồng Sơn

Lại vừa xảy ra một cuộc tranh cãi gay gắt về lá cờ vàng ba sọc đỏ – cờ của chính thể quá cố Việt Nam Cộng Hòa. Lần này cuộc tranh cãi liên quan tới ca sỹ Mai Khôi, một nghệ sỹ trẻ đã có một số biểu hiện cổ xướng, đứng về phía tự do, dân chủ, nhân quyền.




Tranh cãi, tranh luận là một điều kiện cơ bản để con người tìm ra chân lý, hiểu được sự thật. Nhưng tranh luận về lá cờ vàng hiện nay có hai trở ngại chính. Thứ nhất, chế độ đương quyền tại Việt Nam vẫn là một chế độ độc tài bất dung khác biệt chính trị và bất dung mọi thứ có thể tổn hại tới sự độc quyền quyền lực của nó. Thứ hai, lá cờ vàng là lá cờ của một chính thể là đối thủ của, và đã thua, chế độ đương quyền Việt Nam trong cuộc nội chiến 1954-1975.

Trở ngại thứ nhất đưa tới những hệ quả cơ bản: các thông tin xác thực về cờ vàng cùng chính thể song hành vẫn bị ngăn chặn/bóp méo/cắt xén khiến cho nhiều người hiểu sai về cờ vàng; những người còn sợ độc tài/còn muốn dựa dẫm, hưởng lộc độc tài không thể/không dám/không muốn bày tỏ thái độ khách quan/đúng mực về cờ vàng.

Trở ngại thứ hai dễ đưa tới hai xúc cảm thái quá trái ngược nhau: hoặc quá nuối tiếc, quá thương cảm một cái đã mất thành ra tình cảm ủng hộ quá mạnh; hoặc quá thiếu thiện cảm, quá khinh miệt vì coi đó thuộc về bên thất bại, cùng với sự thu nhận thông tin bị cắt xén/bóp méo, thành ra xúc cảm dị ứng quá lớn. Hai xúc cảm này đều dễ đưa tới những trao đổi thiếu kiềm chế, miệt thị, xúc phạm nhau quá mạnh – những điều không lợi cho xác định lẽ phải, dễ đưa tới các chia rẽ, đổ vỡ.

Nhưng tranh luận sẽ bế tắc và gần như vô ích nếu một bên thuộc nhóm người thứ hai trong hệ lụy của trở ngại thứ nhất kể trên. Mọi lý lẽ, bằng cớ khách quan, xác thực, và ôn tồn đến đâu, chắc chắn sẽ không thể thuyết phục được những người này công khai nhìn nhận/ủng hộ sự thật/điều đúng chừng nào họ vẫn chưa thoát được nỗi sợ/qui phục độc tài. Đơn giản hơn, để thấy lý lẽ, thật đáng quí, nhưng nhiều khi vô ích: Hồ Chí Minh không bao giờ công nhận Việt Cách hay Việt Quốc là những tổ chức chính nghĩa, ái quốc có quyền bình đẳng trong việc tham chính trị nước; rất khó, nếu không phải bất khả, kỳ vọng Nguyễn Phú Trọng và đảng của ông đưa ra cương lĩnh “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nghịch lý, dối trá”.

Trong một số bài viết của tôi, và nhiều bài viết của người khác, đã chứng minh chính thể quá cố Việt Nam Cộng Hòa, cùng những biểu tượng liên quan, đáng được trân trọng. Sự trân trọng này không dựa trên tình cảm yêu-ghét, thân-sơ, mà dựa trên so sánh về mức độ văn minh-man dã, tự do-nô lệ, dân chủ-độc tài, bao dung-hẹp hòi, nhân bản-phi nhân và ái quốc-phản quốc. Cố nhiên, chính thể Việt Nam Cộng Hòa đã thua, đã chết. Đó là một sự thật không thể nói khác. Nhưng xét đúng-sai, tốt-xấu, thiện-ác không thể dựa trên thắng-thua, được-mất. Lịch sử nhân loại và lịch sử Việt Nam đã từng xảy ra rất nhiều biến cố trong đó cái Thiện, cái tiến bộ bị thất bại, bị tiêu diệt; cái Ác, cái man khai hơn đã ngạo nghễ chiến thắng, thống trị trong một thời gian, đôi khi khá dài. Nhưng không vì thế mà nhân loại tiến bộ lãng quên, xa lánh, xúc xiểm Socrates, Thomas More, Bruno, Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, Pétrus Ký, Cộng Hòa La Mã hay thành-bang dân chủ A Ten. Ngoài ra, nếu tìm hiểu kỹ lưỡng hơn về lịch sử cuộc nội chiến Việt Nam 54-75, tôi tin tưởng chúng ta sẽ biết nhiều hơn và hiểu hơn các nguyên nhân đã đưa tới thất bại của Việt Nam Cộng Hòa – theo tôi, cũng là thất bại chung của mọi người Việt Nam muốn có chung một Tổ quốc tự do, nhân bản và lành mạnh.

Trong cuộc tranh luận đang nói, và những cuộc tranh luận tương tự, còn cho thấy có một thái độ khác, ẩn tính hơn, nhưng rất đáng bàn. Đó là thái độ tỏ ra trung lập, không ủng hộ lá cờ nào của hai chính thể đối nghịch, cộng sản hay cộng hòa. Thái độ này thường cơ bản tự lấy cơ sở dựa trên quyền tự do bày tỏ (freedom of expression) hay tự do ngôn luận (freedom of speech) để khéo léo ủng hộ  quan điểm/thái độ xa lánh, miệt thị cờ vàng.

Thoạt nhìn thái độ trung lập này rất có lý, vì dựa vào các nhân quyền cơ bản đang là vấn đề thời thượng. Nhưng nhìn kỹ chúng ta sẽ thấy thái độ trung lập này không ổn, hoặc là ngộ nhận hoặc là ngụy biện cho một ẩn đích nào đó. Bởi, thứ nhất, trong những cuộc tranh luận chúng ta đang nói tới, không có bên nào đàn áp tự do bày tỏ/ngôn luận của bên nào, chỉ thuần túy hai bên cùng bày tỏ quan điểm trái ngược nhau, vì vậy đưa quyền tự do ra ở đây để biện hộ là lạc đề; thứ hai, vấn đề mấu chốt của cuộc tranh luận/tranh cãi là việc phải xác định cờ vàng có đáng được trân trọng hay đáng bị miệt thị thì thái độ trung lập này không hề đề cập.

Thái độ trung lập này còn đưa thêm những lý lẽ phụ khác như “chỉ quan tâm tới nhân quyền và tự do chứ không quan tâm tới chính trị/chính quyền/cờ quạt”; hoặc viện dẫn lịch sử nội chiến Mỹ để chứng minh “ủng hộ lá cờ nào cũng không quan trọng.”

Trong lý lẽ phụ thứ nhất vừa nói đã ẩn chứa một thái độ lẩn tránh, nếu không phải là thiếu trung thực. Vì những ai đã trải nghiệm sống tại Việt Nam từ 40 năm qua đều không thể không nhận ra hiện trạng mất nhân quyền, tự do có sự gắn bó máu thịt với chế độ chính trị/chính quyền – một biểu tượng của nó là “lá cờ quốc gia” nền đỏ sao vàng.

Lý lẽ phụ thứ hai, có vẻ sang trọng và học thuật hơn, đã tự cho thấy một tư duy so sánh/liên hệ khập khiễng, trái bối cảnh. Bởi, thứ nhất, bên chiến thắng trong nội chiến Mỹ không đàn áp, không sỉ nhục những người thuộc phía thua là “thù địch”, “bán nước”; thứ hai, bên chiến thắng đã ý thức thiết lập một chế độ dân chủ biết bao dung và bảo vệ đa nguyên chính trị, các quyền tự do căn bản, trong đó có quyền tự do bày tỏ yêu ghét cả hai lá cờ từng là đối địch. Nhưng cuộc nội chiến 54-75 tại Việt Nam không đưa tới kết quả như thế, và hệ thống đương quyền cũng không cho thấy muốn đưa tới những kết quả như vậy. Nói cách khác, thực trạng ở Việt Nam hiện nay là tình trạng trong đó cái Ác đang thống trị, đang lấn át cái Thiện. Vì vậy, nếu thực đứng về cái Thiện và đủ hiểu biết, bản năng lương tâm con người không thể cho phép phát ra những thông điệp ‘trung lập’, thờ ơ giữa hai lá cờ, càng không thể biện luận để đánh đồng cờ vàng với cờ đỏ hay cờ đỏ cũng như cờ vàng, Thiện Ác lẫn lộn.

Nhìn lại những ngày đen tối, rùng rợn của Thế chiến II, chúng ta không khỏi lạnh mình nếu tưởng tượng những con người như Albert Einstein, Julius Robert Oppenheimer, hay Deithich Bonhoeffer cứ tỏ ra cao đạo ‘trung lập’, vờ khinh bỉ chính trị để thụ hưởng êm ấm, bổng lộc cho bản thân. Thực trạng nội chiến giành giật Ác-Thiện của Việt Nam 54-75 cũng cho thấy ‘trung lập’, dù thật hay giả, sập bẫy hay cố ý, đều đã tiếp tay cho cái Ác thống trị toàn xã hội.

Dĩ nhiên, như đã nói, vẫn có những đồng bào chỉ vì sợ hãi, vì thiếu thông tin nên chưa nhìn ra, chưa dám bảo vệ sự thật. Nhưng nếu chỉ có vậy, chúng ta có thể an tâm và hoàn toàn tin, tin vào sự chân thành, sẽ có một ngày những đồng bào đó sẽ tự tin bày tỏ lòng trân quí một lá cờ của một chính thể dân chủ, nhân bản nhất (cho tới nay) của người Việt Nam đã từng tồn tại trong lịch sử.○


*Cập nhật 11:49 AM, 18/01/2017: Trong cụm từ "...không thể thuyết phục được những người này công khai nhìn nhận/ủng hộ sự thật/điều đúng chừng nào..." chữ  "công khai" là chữ vừa được bổ sung.

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

Không sợ phản biện


Trong xã hội ta thời gian gần đây đã cho thấy rõ một điều tưởng chừng như vô lý: Phê phán chính quyền độc tài chưa hẳn đã khó hay sợ hơn phê bình người cùng đấu tranh chống độc tài. Cái khó, cái sợ đó đến từ cả vấn đề thực dụng lẫn vấn đề kỹ thuật. Chúng ta ngại có thể gây chia rẽ, mất đoàn kết, phân tán sức mạnh vốn đã mỏng lại còn yếu giữa những người đấu tranh. Chúng ta sợ bị cô lập, cô đơn ngay chính trong nhóm người vốn đã bị cô đơn, cô lập. Và chúng ta ngại vì không đủ kỹ thuật diễn đạt để tránh hết được những hiểu lầm, ngộ nhận… Những quan ngại đó đều chính đáng và cần thiết. Nhưng một xã hội không biết phản biện, ngại phản biện, một xã hội thiếu một dư luận thẳng thắn và nghiêm chỉnh là một xã hội dung dưỡng độc tài đương quyền và ươm mầm cho độc tài tương lai. Do vậy, không còn cách nào khác, dù ngại hay sợ, chúng ta vẫn nên cùng nhau học phản biện. Và đây một kinh nghiệm đáng học từ chính người Việt chúng ta, dù đã trên 80 năm:

AI NÓI DƯ LUẬN AN NAM KHÔNG CHÍNH ĐÁNG?*


Phan Khôi

Ông đảng trưởng đảng Lập hiến đã bị công kích một cách công nhiên!

Vì một việc mới xảy ra trong làng báo làm cho chúng tôi phải mở ra cái đầu đề trên kia. Mà khi đặt bút xuống viết cái đầu đề nầy, chúng tôi không thể nào quên được chuyện chúng tôi đã làm cách ba tháng trước đây.

Ấy là chuyện báo Trung lập nầy đã công kích đảng Lập hiến Nam kỳ. Còn nhớ lúc bấy giờ chúng tôi viết cả thảy hơn mười bài mà kể sự bất lực của đảng ấy và có phân trần lợi hại cùng các ổng.

Nói chi thì nói, chớ trong mười bài đó, chúng tôi chưa hề nói động đến cá nhân của đảng viên Lập hiến. Dầu chúng tôi biết chắc các ổng có nhiều người làm việc ám muội, không xứng đáng với lòng tin cậy của quốc dân, nhưng chúng tôi chưa hề đặt miệng nói đến những điều tư đức của các ổng bao giờ, ấy là vì có lẽ khác buộc ngòi bút chúng tôi phải như vậy.

Việc tư đức, việc cá nhân mặc lòng, mà nếu nó có quan hệ đến đồng bào xã hội thì cũng nên bới ra mà công kích. Nhưng hồi đó, chúng tôi mở đầu làm việc ấy, thật là việc lạ tai lạ mắt người ta. Rất đỗi chúng tôi không hề nói động đến một điều tư đức của ông nào như vậy đó, mà còn có người cho chúng tôi là kịch liệt quá thay; huống chi đem chuyện tây riêng ra mà nói thì làm thế nào cho có người tin lời chúng tôi là phải được? Ấy, cái khổ tâm của nhà ngôn luận xứ ta thường thường như vậy đó mà có ai hiểu biết cho chăng?

Đại phàm sự trái lẽ, sự phản thường làm chướng tai gai mắt người ta, thì may lắm chỉ được che đậy trong một hồi, chớ rốt lại rồi cũng không thể nào bắt kẻ bàng quan nhịn miệng được. Như những cái cử động của đảng Lập hiến đã bị tờ báo nầy chỉ trích độ nọ rồi; còn về phần riêng các đảng viên đảng ấy, có nhiều chuyện đáng nói là khác nữa, hễ nhắm là có quan hệ đến xã hội rồi cũng chẳng ai tha.

Cụ Bùi Quang Chiêu, đảng trưởng Lập hiến, từ hồi ở bên Pháp về, quốc dân ngửa trông nơi cụ là dường nào; mà nhiều khi ở giữa công chúng, cụ cũng vỗ bụng đương lấy cái trách nhiệm dìu dắt anh em lên đường tấn bộ, thế mà ngày nay thành ra láo toét ráo, gẫm đà quá ngán!

Phụ nữ tân văn số 75, ra ngày 23 Octobre mới rồi, có một bài đề là Ông Bùi Quang Chiêu năm 1930 xin độc giả cứ lật ra mà coi, thì đủ thấy ông lãnh tụ, ông thượng lưu, ông chí sĩ, ông tân nhân vật đầu sổ ở xứ ta ngày nay ra sao, chúng tôi không cần thuật lại ở đây làm chi.

Vả Phụ nữ tân văn là cái cơ quan ngôn luận của đám đờn bà, ít hay dính tới việc chánh trị, mà ngày nay cũng phải cầm giáo đương tiên đâm ông lãnh tụ như thế, thì đủ biết là việc đã không hèn, việc đã quá lắm, không nói không đặng vậy.

Trước đây, trong khi Trung lập công kích đảng Lập hiến, không có một bạn đồng nghiệp nào đặt miệng vào đó hết, chúng tôi tưởng là trên đàn ngôn luận đã mờ ám lắm rồi, sự phải quấy ở xứ nầy đã không ai cần phân biện nữa hết. Ngờ đâu nay có bạn đồng nghiệp Phụ nữ cũng có đồng một cái luận điệu với chúng tôi, thì lẽ phải há chẳng nhờ đó thêm rõ rệt ra sao?

Về việc cụ Bùi thất tiết với quốc dân, với đảng Lập hiến, thì hầu hết ai ai cũng biết. Nhưng người ta biết mà chỉ nghị luận riêng với nhau thôi. Sự nghị luận ấy chẳng có bổ ích gì cho thế đạo nhân tâm cả. Mới đây thấy có người viết ra cuốn sách nhỏ nói xa nói gần, kể cũng là hữu tâm, nhưng chưa gọi là một cái dư luận chánh đáng được. Vì họ nói một cách tiếu mạ, chỉ chọc tức người ta, chớ không phải là có danh chánh ngôn thuận như bài của Phụ nữ tân văn.

Bạn đồng nghiệp Phụ nữ làm được việc nầy, thật là một việc vẻ vang cho làng báo chúng ta lắm. Từ nay còn ai nói được rằng dư luận An Nam ta là không chánh đáng? Từ nay những người to đầu lớn mặt làm một việc gì há chẳng nên coi chừng trước ngọn bút của tờ báo quốc âm?

Hôm trước thấy ông Phạm Quỳnh có viết trả lời cho ông Phan Khôi trong Phụ nữ tân văn nói rằng sự thanh đông kích tây, nay công kích người nầy mai công kích người nọ, chỉ làm cho vui mắt kẻ bàng quan, chớ không được việc chi hết. Lời ông Phạm nói đó, chúng tôi còn chưa chịu.

Ở trong một xã hội như xã hội ta đây, còn lộn xộn lắm, thế thì phải nhờ ở sự khuyến thiện trừng ác của nhà báo mới được. Vậy nên mình phải xét xem sự người ta công kích đó là phải hay quấy; quấy thì thôi, nếu phải thì mình nên để ý đến sự công kích của người ta. Chớ nhứt thiết mạt sát đi hết cho là chỉ làm vui mắt kẻ bàng quan, sao được?

Như Phụ nữ tân văn công kích cụ Bùi Quang Chiêu lần nầy thật là chánh đáng lắm. Những lời của bạn đồng nghiệp nói đó chẳng khác nào đại biểu cho cả nhân dân xứ nầy mà nói ra. Một cái nghị luận của nhà báo công bình chánh trực như vậy đó, mà nếu người bị công kích cũng coi như không, không có ý hồi đầu[i] lại cho đến kẻ bàng quan cũng cho là việc tầm thường, việc nói xấu nhau, thì thôi, hết mong gì nữa!

Riêng phần chúng tôi là kẻ mở đầu công kích đảng Lập hiến trước nhứt, tuy được nhiều người hoan nghinh lẽ thật của chúng tôi mà cũng bị những người cạn nghĩ chê bai chúng tôi lắm lời. Dầu vậy mặc lòng, tờ Trung lập nầy cũng vẫn giữ cái thái độ thẳng như giây đờn mà không hề núng. Ước gì bạn đồng nghiệp cũng nhứt tâm nhứt đức như chúng tôi, trước sau giữ vững cái luận điệu cho quang minh chánh đại mà không thay đổi, thì thật là một “tin lành” cho ngôn luận giới xứ ta.

TRUNG LẬP
Trung lập, Sài gòn, s.6281 (24.10.1930) ○

*Bài này rút từ Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1930 do Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn. Nxb Hội nhà văn, Trung tâm Ngôn ngữ Đông Tây, 2006. Bản điện tử xem tại đây.








[i] hồi đầu : ăn năn, bỏ chuyện cũ (theo Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam quốc âm tự vị, Sài Gòn, 1895-1896. Chú thích của Lại Nguyên Ân.).

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013

Đính chính và trao đổi với ông Nguyễn Huy Canh



Phạm Hồng Sơn

Tôi đã lắng nghe được nhiều phản hồi (khen, chê) sau khi bài trả lời phỏng vấn của tôi với BBC Việt ngữ (Góp ý hiến pháp: hơn một sự ngộ nhận.) được đăng tải vào ngày 02/03/2013. Dưới đây là một phản hồi (góp ý) tôi nhận được trực tiếp và đã hồi đáp, trao đổi. Được sự đồng ý của người trao đổi, tôi xin trân trọng giới thiệu với quí vị:

                                         Thư trao đổi với anh Phạm Hồng Sơn

                                                             
Nguyễn Huy Canh

Vào trang Quechoa thấy có bài của anh trả lời BBC khi được hỏi về công cuộc đóng góp ý kiến cho Dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992, cũng như kiến nghị 72, xin được có 2 ý nhỏ trao đổi thêm với anh.

1, Trong phần trả lời đó, anh có nói gây ấn tượng nhất cho anh là ý kiến của ông Nguyễn Trung, và tôi (Nguyễn huy Canh-Hải Phòng), thành thật cảm ơn anh về nhận xét đó. Nhưng cũng tiếc rằng khi nói về cách thức, phương pháp cho một công cuộc cách tân đất nước, anh đã không đúng, hay gọi là nhầm lẫn cũng thế, khi cho rằng “luật hóa điều 4 HP” là con đường, là biện pháp ưu tiên của tôi.

Nếu anh có dịp đọc những bài viết của tôi như “Trao đổi thêm với đại biểu Dương Trung Quốc”,”Nqtw4 và nỗi đau lịch sử” hay “đảng và Hiến pháp”, “Trao đổi với 2 ông Bùi Đức Lại và Trần Mạnh Hảo” anh sẽ thấy phương pháp hay dự án mà tôi đưa ra đều là nguyên tắc phải thay đổi cái cấu trúc quyền lực của đảng từ tw đến các cơ sở. Đó là việc phải bỏ đi tính quyền lực tự cấu tạo, khép kín của BCHTW, BCT, BBT...và cấp ủy đảng ở các cấp. Một quán tính lịch sử trong việc thiết kế quyền lực chính trị của đảng giờ đã trở thành một câu hỏi quá lớn của xã hội và của một thể chế gọi là dân chủ. Người dân đã hiểu ra rằng “mọi quyền lực đều không đi ra từ những lá phiếu bầu của cử tri đều không chính danh” và với tôi xem đây là lộ trình cần thiết cho một quá trình cách tân của thực tiễn chính trị VN trên con đường dân chủ hóa thể chế quyền lực được ý thức...

Xin nói với anh, chưa bao giờ tôi đưa ra yêu cầu cần “luật hóa điều 4 HP” như một phương pháp tối ưu của quá trình đổi mới “tái cấu trúc toàn hệ thống” thậm chí tôi còn phê phán mạnh mẽ các loại ý kiến này như ông Bùi Đức Lại, ông Vũ Mão đã đưa ra...tôi coi đó là kết quả của những ý chí điên rồ. Rằng khi cấu trúc quyền lực của đảng, cũng như của hệ thống chính trị, đảng đã đứng trên Nhà nước, và HP thì làm sao nhân dân thông qua QH của mình để có thể luật hóa được sự lãnh đạo của đảng.

2, Tôi cũng nhất trí với anh ở một khía cạnh, và chỉ một khía cạnh thôi, xây dựng cho được một bản hiến pháp chuẩn và đẹp-đó không phải là điều quan trọng. Rằng quyền lập hiến nguyên thủy chỉ có giá trị sau những chính biến của lịch sử, và do đó điều cốt lõi phải ở công việc phê phán hiện thực bởi những hành động hiện thực. Xin nói thêm, tôi phê phán ông TMH khi ông nói về những mâu thuẫn nền tảng trong việc duy trì điều 4HP cũng nằm trong chiều nhận thức này.

Nhưng tôi và ông cũng cần nên hiểu rằng, không nên tuyệt đối hóa nhận thức đó khi ông cho rằng công cuộc góp ý sửa đổi HP hiện nay là một động thái kì cục của nhân dân, của các nhân sĩ, trí thức. Vì rằng:

a) những ý kiến, tâm nguyện đó của nhân dân chính là sự thể hiện, biểu hiện trực tiếp nguyện vọng và nhu cầu dân chủ của đời sống, là tiếng kêu đau đớn của thực tiễn lịch sử tự lộ ra, tự phát ra trong một thể chế chuyên quyền, đảng trị.

b) cái nhu cầu sinh động ấy sẽ trở thành những áp lực chân chính của lịch sử dội lên thái độ và quan điểm độc tài, độc quyền của giai tầng lãnh đạo. Đó sẽ là những giá trị tạo ra nội dung dân chủ của thời đại chúng ta. Theo ý nghĩa ấy, chính nhân dân, các tầng lớp nhân sĩ ,trí thức đang là những lực lượng, những chủ thể sáng tạo chân lí của lịch sử này. Nhân  đây tôi cũng nói thêm với anh là, chân lí không phải là cái gì ẩn lấp sâu, ở đâu đó có sẵn trong thực tại, còn chủ thể chỉ đóng vai trò tìm kiếm, phát hiện ra nó như các loại Duy thực, Duy vật luận của các thế kỉ trước quam niệm. Con người trong tính chủ quan-hiện thực của nó, nó đang tham dự tích cực vào trong quá trình hình thành, sáng tạo lên chân lí đời sống, chân lí của lịch sử này. Rằng họ xuất hiện ra hoàn toàn không còn như những quần chúng được hiểu như những bộ phận vật chất thụ động cần phải có các trí tuệ dẫn đường, lãnh đạo như họ đã xuất hiện ra trước đây trong lịch sử như thế...

Vì vậy với tư cách một người nghiên cứu, một chủ thể tham dự như ông, ông phải thấy đó là sự kiện tiến bộ, là hiện tượng tiến bộ cần phải được đem vào trong những cảm xúc, những thể hiện của mình cũng như trong những lí giải về đời sống cùng với những hành động thúc đẩy nó hơn nữa.

Trên đây là những ý kiến mong muốn chúng ta cùng trao đổi với nhau trên tinh thần tôn trọng, cùng chung sống của các quan niệm, niềm tin nơi mỗi chúng ta như một tồn tại đang...như là trong hành động, rằng đừng làm điều gì tổn hại tới dòng chủ lưu dân chủ của thời hiện đại đang dần lớn lên trong đời sống lịch sử còn nhiều đau thương của chúng ta. Chúc ông khỏe.
                                                                                    huycanh


Kính gửi ông Nguyễn Huy Canh,

Thưa ông, trước tiên tôi xin rất cảm ơn ông đã e-mail (ngày 06/03/2013) góp ý đối với bài trả lời phỏng vấn của tôi trên BBC Việt ngữ (Góp ý hiến pháp: hơn một sự ngộ nhận.)  Xin được thưa lại với ông như sau:

I.       Tôi xem lại tư liệu và tôi đã nhận ra sai lầm khi cho rằng ông “kỳ vọng vào luật hóa Điều 4”. Trước tiên, tôi thành thật xin lỗi ông và mong ông hiểu đây là sự sơ suất ngoài ý muốn của tôi trong khi tìm hiểu. Tôi sẽ thực hiện đính chính[i] và xin lỗi ông công khai trên blog Như Cây Tre Việt Nam.

II.    Trong e-mail của ông có một số điểm tôi xin được trao đổi lại trên tinh thần tranh biện thẳng thắn như sau:

1.     Ông viết: “Người dân đã hiểu ra rằng “mọi quyền lực đều không đi ra từ những lá phiếu bầu của cử tri đều không chính danh” và với tôi xem đây là lộ trình cần thiết cho một quá trình cách tân của thực tiễn chính trị VN.”

Tôi cứ tạm giả thiết nhận định này của ông là đúng, thì theo tôi trong sự “hiểu ra” này đã có sự lạc hậu khoảng ba thập niên về lý thuyết và kinh nghiệm về dân chủ tự do trên thế giới. Thưa ông, việc lấy lá phiếu của cử tri (dù là bầu cử phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, tự do và trung thực) làm tiêu chí cơ bản để đánh giá một xã hội (thể chế) dân chủ tự do là quan điểm thịnh hành vào thập niên 1980 của thế kỷ trước. Đến nay, quan điểm này đã được rút kinh nghiệm và bị phê phán (đại diện phê phán có thể kể ra là Samuel P. Huntington và Fareed Zakaria). Ngắn gọn thì có thể hiểu rằng: một chính quyền có thể là hoàn toàn chính danh (do bầu cử tự do tạo ra) nhưng chưa hẳn đã là một chính quyền mang lại tự do, nhân quyền cho nhân dân. 

Dĩ nhiên, kể cả cái chính quyền chính danh phi tự do này cũng đã là điều đáng ước mơ cho nhiều người Việt Nam chúng ta rồi. Do đó, tôi đồng ý với ông “lá phiếu cử tri tự do, bình đẳng và trung thực” có thể là bắt đầu cho lộ trình cách tân chính trị Việt Nam. Nhưng, chúng ta cũng không nên quên cái lợi thế của những nước dân chủ hóa muộn là việc được quyền không vấp lại những cái giá do phải lần mò của những nước đi trước nếu chúng ta cùng biết tìm hiểu và cùng gắng học tập, rút kinh nghiệm từ những nước đó.

2.     Ông viết: “không nên tuyệt đối hóa nhận thức đó khi ông cho rằng công cuộc góp ý sửa đổi HP hiện nay là một động thái kì cục của nhân dân, của các nhân sĩ, trí thức.”

Tôi cho đây là một sự diễn dịch nhầm, có thể nói là quá xa so với nguyên văn phát biểu của tôi. Thưa ông, tôi không tuyệt đối hóa như ông viết. Tôi xin trích lại một phần nhận định của tôi: 

“Với cái nền “rule of law”, cả từ đáy cho tới hiện tại, như thế thì sao có thể nói đến hiến pháp hay sửa hiến pháp được? Do đó, theo tôi, một cách thẳng thắn, nếu bàn đến xây dựng hay ủng hộ việc cải cách hiến pháp với chính quyền Việt Nam hiện tại là một việc làm kỳ cục, gần như vô ích hoặc hết sức ảo tưởng.” 

Như vậy nhận định này của tôi là trên phương diện mục đích tối thượng (hoặc tối ưu) và căn cứ vào thực tế hiển nhiên của hơn 60 đã năm qua và nhận định này nếu áp dụng vào hiện thực những ngày hôm nay của Việt Nam thì cũng chỉ đúng với một số cá nhân chứ không thể đúng đối với tất cả “nhân dân” hay tất cả “nhân sĩ, trí thức”. 

Tôi hiểu, bất kỳ cá nhân nào, kể cả bản thân tôi, khi áp dụng (đúng hoặc nhầm) nhận định đó vào bản thân mình cũng sẽ có cảm giác không dễ chịu. Nhưng đứng trên góc độ trách nhiệm phải cố tránh những sai lầm cho một dân tộc vốn đã phải chịu nhiều khổ đau vì ngộ nhận hoặc lừa gạt thì tôi nghĩ cảm giác không dễ chịu đó sẽ không còn quan trọng nữa. Tôi cũng hiểu việc tiếp cận chân lý và việc huy động, tập hợp dân chúng đều là hai việc quan trọng đối với một xã hội muốn thoát khỏi kìm kẹp, chia rẽ. Nhưng nếu chúng ta coi nhẹ, lãng quên hoặc đặt việc tiếp cận chân lý xuống dưới việc huy động dân chúng thì ngộ nhận hay lừa gạt, nhiều phần, sẽ lại chờ đón chúng ta. 

3.     Ông viết: “những ý kiến, tâm nguyện đó của nhân dân chính là sự thể hiện, biểu hiện trực tiếp nguyện vọng và nhu cầu dân chủ của đời sống”

Đúng, đó có thể là biểu hiện của một “nguyện vọng và nhu cầu dân chủ”. Nhưng một nguyện vọng, một ước muốn dù khát khao đến mấy chưa đảm bảo cho việc có cách tiếp cận đúng (hoặc tối ưu) để đạt được ước muốn, nguyện vọng đó, đặc biệt khi không gian trao đổi về tư tưởng, ngôn luận còn hạn hẹp hoặc bị trấn áp.

Ngoài ra, câu này cũng lặp lại sự diễn dịch sai giống như tôi đã trình bày ở trên về cụm từ “của nhân dân”. Tôi nghĩ, chúng ta rất cần phải chia tay với lối mòn lâu nay trong việc gán từ “nhân dân” hay nhân danh “nhân dân” khi bày tỏ hay đánh giá ý kiến của bất kỳ nhóm người nào, dù là lớn nhỏ hay uy danh đến mấy, trong xã hội. Nếu không, chúng ta sẽ tiếp tục dễ dàng ngộ nhận chân lý với số lượng và tiếp tục không thấy quyền lợi, ý kiến của thiểu số cũng cần phải được tôn trọng và có thể cũng rất quan trọng.

4.     Ông viết: “chân lí không phải là cái gì ẩn lấp sâu, ở đâu đó có sẵn trong thực tại, còn chủ thể chỉ đóng vai trò tìm kiếm, phát hiện ra nó như các loại Duy thực, Duy vật luận của các thế kỉ trước quan niệm.”

Tôi xin bổ sung: Nhưng gọi được đúng tên và tìm được đúng “chân lý” vẫn mãi là vấn đề cần và phải tranh luận của con người.

5.     Ông viết: “Con người trong tính chủ quan-hiện thực của nó, nó đang tham dự tích cực vào trong quá trình hình thành, sáng tạo lên chân lí đời sống, chân lí của lịch sử này.”

Tôi đồng ý và vui sướng vì ý nghĩ lạc quan này của ông về con người. Tôi chỉ xin bổ sung: nhưng con người cũng đừng nên quá vui, quá tự tín để quên mất con người có đặc tính sai lầm, kể cả nhầm về “chân lý” hoặc lầm về cách hình thành, sáng tạo “chân lý”.

6.     Ông viết: “rằng đừng làm điều gì tổn hại tới dòng chủ lưu dân chủ”.

Vâng, nếu thực sự và chính xác 100% có một “dòng chủ lưu dân chủ” ở Việt Nam thì mong ông hãy tin rằng chắc chắn tôi sẽ thuộc những người đầu tiên bảo vệ nó. Nhưng sẽ rất dễ sai lầm nếu ta mặc định hình thức/bản chất cho một sự vật, hiện tượng trước (hoặc trong) khi ta (còn đang) tìm hiểu để đánh giá đúng về chúng. Hơn nữa, theo tôi, ”bảo vệ” không luôn tương đương với “đồng ý”, cũng như “phản đối” không luôn tương ứng với “tổn hại”. Tuy vậy lo lắng này của ông, và chắc cũng là của nhiều người khác, tôi hoàn toàn chia sẻ.

Những ý kiến khác của ông tôi xin trân trọng cảm ơn và coi đó là một phản biện đối trọng, gợi ý học tập, chia sẻ hay là lời nhắc nhở, cảnh báo tích cực cho bản thân tôi trong công việc nghiên cứu hay trong sự mong muốn đóng góp chút gì đó cho tiến bộ chung của “lịch sử nhiều đau thương này.”

Xin cảm ơn ông một lần nữa về sự góp ý thẳng thắn, lịch thiệp.

Kính chúc ông sức khỏe,

Phạm Hồng Sơn
○




[i] Đính chính đã được thực hiện trước khi bài này được đăng tải. Tôi (Phạm Hồng Sơn) chân thành xin lỗi quí vị độc giả vì sơ suất này. 

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

Vài phản biện về bài “Thoát Trung Luận”

Vài phản biện về bài “Thoát Trung Luận”

Cách đây ít hôm một bài viết có nhan đề “Thoát Trung Luận” của tác giả Giáp Văn Dương đã được đăng tải trên nhiều trang mạng phi nhà nước. Tác giả Giáp Văn Dương đã đề cập đến một vấn đề không chỉ có tính thời sự mà còn có tính chiến lược cho sự phát triển của đất nước Việt Nam: “Cần thoát khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc!” Như tác giả nhận định, quan điểm vừa nêu phần lớn mới chỉ được nhiều người thể hiện ở mức “trực giác”, chưa có tính “hệ thống” hay “mạch lạc”. Tiếp theo, tác giả trình bày cơ sở lý luận của mình cho quan điểm “Thoát Trung” đó, có thể tóm tắt làm hai ý chính: phần 1: tác giả chứng minh “Thoát Trung” đã là ý muốn của tổ tiên ta từ xa xưa; phần 2: tác giả mô tả sự phụ thuộc, rập khuôn tai hại hiện nay của Việt Nam vào Trung Quốc ở nhiều lĩnh vực và cuối cùng tác giả đưa ra lời kêu gọi “Thoát Trung hay là chết” như tổ tiên đã ra lệnh.

Tuy nhiên toàn bộ bài viết “Thoát Trung Luận” của Giáp Văn Dương vẫn cho thấy tác giả chủ yếu dựa vào sự nhiệt huyết dân tộc và cảm tình với tổ quốc để chứng minh cho một quan điểm hơn là dựa vào các cứ liệu hay tư duy hệ thống. Sau đây là vài điểm minh họa cho nhận định này:

- Giáp Văn Dương viết: “Khi còn nhỏ, tôi đã từng ngạc nhiên khi đọc bài hịch của vua Quang Trung khích lệ tướng sĩ trước khi ra trận: “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để răng đen…”. Tôi đã tự hỏi, vì sao nhà Vua không chọn những biểu tượng lớn lao hơn mà lại chọn những điều nhỏ nhặt như vậy để động viên quân sĩ ? Nhưng càng ngày tôi càng thấm thía : Đó là lòng kiên định của tổ tiên nhằm thoát khỏi vòng kiềm tỏa của nền văn hóa Trung Hoa, ngay từ những việc nhỏ nhất.”

*Việc chỉ căn cứ vào lời nói của một ông vua trong cả một lịch sử hàng ngàn năm để kết luận đó là “lòng kiên định của tổ tiên” thì đó là một suy diễn quá xa và yếu ớt trong nghiên cứu lịch sử. Hơn nữa một “nền văn hóa” không chỉ thể hiện hay kết tụ ở kiểu tóc hay màu răng. Dĩ nhiên chữ “tóc” và “răng” trong lời hiệu triệu của Quang Trung có thể chỉ có tính biểu tượng nhưng nếu ta quá câu nệ vào đó thì sẽ dễ làm cho chúng ta quên mất cái hệ lụy quan trọng nhất của một sự ảnh hưởng của văn hóa không phải là những thứ hữu hình mà là những giá trị vô hình – cách tư duy.

- Giáp Văn Dương viết tiếp phần trên: “Ý thức vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này là thường trực. Tuy nhiều lúc bị chao đảo bởi sự tấn công mạnh mẽ đến từ phương Bắc, nhưng mỗi khi cần đến thì ý thức vùng thoát này lại bùng lên dữ dội.”

*Ở đây tác giả lại tiếp tục suy diễn quá xa theo kiểu khẳng định đồng nhất ý muốn của các triều đại phong kiến Việt Nam. Nhìn vào trường lịch sử của Việt Nam thì đúng ra là mọi triều đại phong kiến Việt Nam chỉ thường trực ý thức cảnh giác với ý đồ xâm lược từ phương Bắc. Và thường mỗi khi bị phương Bắc xâm lược thì các triều đại phong kiến Việt Nam có phản ứng chống lại một bộ phận văn hóa phương Bắc như một biện pháp tuyên truyền để cổ xúy tinh thần chống ngoại xâm hơn là ý thức thoát khỏi ảnh hưởng văn hóa của Trung Quốc một cách cơ bản. Một bằng cớ rõ ràng là Văn Miếu (nơi thờ Khổng Tử - một biểu tượng và là một trong những tác giả lớn của nền văn hóa Trung Quốc) vẫn luôn được bảo vệ và tôn tạo từ đời Lý Thánh Tông trở về sau.

- Tiếp theo Giáp Văn Dương đưa ra thêm một số cứ liệu minh chứng cho tinh thần “Thoát Trung” của tổ tiên chúng ta như vấn đề chữ viết, tên nước:

+ “Nỗ lực xây dựng chữ viết riêng cho dân tộc như chữ Nôm của cha ông.” (Giáp Văn Dương)

*Thực ra chữ Nôm cũng chỉ là một phó bản kém của chữ Hán. Vấn đề “Thoát Trung” điều quan trọng không phải là từ bỏ một cách manh mún những sản phẩm hay công cụ văn hóa của Trung Quốc mà phải là nhận ra những điểm yếu, lạc hậu, cản trở của nền văn hóa đó đối với sự phát triển và phải xây hoặc tìm lấy được những giá trị văn hóa tiến bộ hơn.

+ “, và gần đây nhất là việc toàn dân đồng loạt chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, là minh chứng rõ ràng cho sự vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này.” (Giáp Văn Dương)

*Thực tế đây chỉ là một phản ứng thụ động của sự biến đổi do những người ở phương Tây đem lại và nếu là ý thức chủ động thoát khỏi phương Bắc thì cũng chỉ của một bộ phận nhỏ của sĩ phu đương thời (đã có tiếp cận với văn hóa phương Tây) mà thôi.

+ “Riêng với việc chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, có thể nói, đây là một cuộc thoát Trung ngoạn mục.” (Giáp Văn Dương)

*Chữ quốc ngữ chỉ là một yếu tố, một điều kiện thuận lợi cho việc rời xa văn hóa Trung Quốc mà thôi. Thực tế đã cho thấy hai Việt Nam (Bắc và Nam từ 1954-1975) cùng sử dụng chữ quốc ngữ nhưng miền Bắc lại gần như hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc.

+ “Thành quả của nó thật đáng nể: Số người biết đọc biết viết tăng lên gấp bội, số lượng văn bản sử dụng chữ quốc ngữ chỉ trong một thời gian ngắn đã tăng lên gấp nhiều lần so với số văn bản chữ Nho của toàn bộ lịch sử nước ta trước đó.” (Giáp Văn Dương)

*Điều này lẽ ra phải ghi nhận cho tính chất dễ sử dụng, dễ truyền bá của chữ quốc ngữ hơn là ý thức thoát Trung của người Việt.

+ “Cũng chính nhờ chữ quốc ngữ mà về mặt hình thức, ngôn ngữ của chúng ta đã thoát khỏi vòng kiềm tỏa của tiếng Hán. Tỷ như đến giờ phút này, nước Việt ta vẫn dùng chữ Nho để viết và giao tiếp với thế giới, thì đối với họ, ta có khác nào một quận huyện của Trung Quốc ? Ta sẽ gặp khó trong việc thuyết phục họ rằng, ta là một quốc gia độc lập, có ngôn ngữ và văn hóa riêng.” (Giáp Văn Dương)

*Nhật bản và Hàn quốc, thậm chí Đài Loan cũng vẫn sử dụng chữ viết tương tự hay đúng như của Trung Quốc nhưng đâu có trở thành quận huyện của Trung Quốc và họ cũng đâu có gặp khó khăn trong việc xác định sự độc lập với Trung Quốc vì vấn đề chữ viết hay văn hóa có nhiều điểm giống Trung Quốc.

+ “Tên gọi của nước ta cũng không phải là một sự ngẫu nhiên. Đằng sau mỗi cái tên đều là một lời nhắn nhủ hoặc một mong đợi sâu thẳm. Ông cha ta đã chọn hai chữ Việt Nam để đặt làm tên nước.” (Giáp Văn Dương)

*Tác giả đã quên mất cứ liệu lịch sử rằng thoạt kỳ thủy vua Gia Long (tức Nguyễn Ánh) đề nghị với vua triều Thanh của Trung Quốc cho nước ta lấy tên là Nam Việt. Nhưng vua Trung Quốc lúc đó vì sợ chữ Nam Việt gợi lại lịch sử trước đây nước Nam Việt (thời Triệu Đà) gồm cả đất Lưỡng Quảng nên chỉ chuẩn thuận cho tên nước ta là Việt Nam.

+ “Việt Nam có nghĩa là tiến về phương Nam. Điều này có nghĩa là gì? Chỉ có thể cắt nghĩa : Tiến về phương Nam để thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Đó là di lệnh của tổ tiên cho các thế hệ con cháu người Việt Nam mình.” (Giáp Văn Dương)

*Đây lại là một suy diễn quá xa và liều lĩnh.

- Giáp Văn Dương nhận định: “ Nhưng điều không may cho chúng ta là nền văn hóa Trung Hoa có sức ảnh hưởng quá lớn. Nó như một đại nam châm hút các dân tộc xung quanh về phía mình. Nên dù luôn có ý thức vùng thoát khỏi ảnh hưởng của người Trung Quốc, dù đã được cha ông di lệnh kỹ càng, thì lịch sử của Việt Nam luôn là sự giằng xé giữa hai luồng vận động: Vùng thoát khỏi Trung Quốc và chầu về Trung Quốc.”

*Tác giả tiếp tục dường như quên mất Nhật Bản, Hàn Quốc, kể cả Bắc Triều Tiên và Đài Loan cũng là các “dân tộc xung quanh” nhưng gần như tất cả đã không chỉ “Thoát Trung” mà còn vượt hơn cả Trung. Tác giả có lẽ cũng đã quên mất một nửa nước Việt dưới vĩ tuyến 17 từ 1954-1975 đã hoàn toàn thoát khỏi Trung Quốc. Và tác giả dường như cố tình quên yếu tố Đảng Cộng sản Việt Nam/Hồ Chí Minh trong vấn đề phụ thuộc Trung Quốc của Bắc Việt Nam từ 1950-1975 và của toàn Việt Nam gần như toàn bộ giai đoạn tiếp theo từ 1975 đến nay.

- Trong phần 2, Giáp Văn Dương chủ yếu liệt kê và mô tả thực trạng đất nước Việt Nam hiện nay bị thâm nhập, lệ thuộc vào Trung Quốc ở hầu khắp các lĩnh vực (văn hóa, kinh tế, chính trị,…), cùng với thể hiện một cảm xúc chua xót, đau buồn là chính, hơn là phân tích để vạch ra nguyên nhân sâu xa và cơ bản của thực trạng đó. Ví dụ, tác giả viết: “Xin hỏi : Một dân tộc được định hình chính bởi cái gì ? Có phải là bởi đất đai, tài nguyên của dân tộc đó hay không ? Chắc hẳn là không. Người ta phân biệt dân tộc này với dân tộc khác bởi chính văn hóa của nó. Nay văn hóa của ta đang bị áp đảo mà dân ta lại vui vẻ cổ vũ chấp thuận, thì khác nào tay ta đã yếu, mắt ta đã chậm mà ta lại tự mua dây về bịt mắt trói tay mình ?”

*Có lẽ tác giả không nhận thấy hoặc không chỉ ra một nguyên nhân chính của thực trạng này chính là chính sách độc quyền về giáo dục, truyền thông của nhà nước hiện nay.

Hay Giáp Văn Dương nhận định chính xác rằng: “những thói hư tật xấu này đang tác oai tác quái làm suy đồi văn hóa và đạo đức của ta quá thể. Bệnh hình thức hư danh, tật khoe khoang thành tích, thói hành dân, nịnh trên lừa dưới, tệ chạy chức chạy quyền… đã thành phổ biến, nên không còn cách nào khác là phải dứt bỏ để học những giá trị tiến bộ của phương Tây như dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, thực học thực nghiệp… thì mới có thể tiến kịp người.”

*Nhưng lẽ ra tác giả cần phải đề cập thêm một vấn nạn nguy hiểm là đã có nhiều người đang cố gắng truyền bá, cổ xúy những tư tưởng, giá trị tiến bộ của phương Tây nhưng họ lại có nguy cơ rất cao bị nhà nước hiện nay kết tội là “thù địch”, “phản động”.

Tóm lại, bài viết “Thoát Trung Luận” của Giáp Văn Dương đã nêu ra một vấn đề lớn, quan trọng và thiết thực trong tình hình hiện nay nhưng lập luận của tác giả vẫn chưa thoát khỏi sự chủ quan thường có của những người có tinh thần yêu nước nồng nàn nhưng chủ yếu chỉ dựa trên tinh thần tự tôn dân tộc và chỉ đề cập vấn đề với một tình trạng nửa vời. Cổ xúy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc khi đất nước đang bị đe dọa xâm lăng là điều quí giá và cần thiết nhưng việc cổ xúy không dựa trên một tinh thần khách quan, duy lý, triệt để, thì sự cổ xúy đó vô hình chung lại duy trì hay tiếp tục tạo ra những lối mòn có hại cho một nền văn hóa vốn đã và đang bị ghìm giữ trong lối suy nghĩ cảm tính, thiên vị, cải lương – những đặc tính rất có lợi cho những kẻ cầm quyền mỵ dân, độc tài. Thiết nghĩ, nếu nhìn ở phạm vi ngay trước mắt thì Việt Nam cần phải xa rời Trung Quốc để hướng đến và thắt chặt với phương Tây, nhưng nếu nhìn ở phạm vi dài hạn thì vấn đề không phải là “Thoát Trung” hay không “Thoát Trung” mà vấn đề là đất nước phải có sự sáng suốt, tỉnh táo để nhận ra được cần phải du nhập cái gì, tránh cái gì hay cần phải đồng minh với quốc gia nào, giữ khoảng cách với quốc gia nào trong mọi quan hệ, các mối quan hệ không bao giờ thuần nhất và bất biến, với các quốc gia, dân tộc khác. Mà để có sự sáng suốt, tỉnh táo đó thì dân chúng và đặc biệt là giới trí thức phải có suy nghĩ độc lập, khoa học và có khả năng ảnh hưởng, tham gia vào các quyết định liên quan đến mọi vấn đề của quốc gia, xã hội. Khi đó mọi vấn đề “thoát” hay “nhập” với bất cứ cái gì không còn là vấn đề khó khăn, mông lung hay bế tắc nữa. Dĩ nhiên đây là vấn đề không hề nhỏ hay dễ dàng để một ý kiến có thể đạt được tính đầy đủ và thuyết phục cho mọi góc cạnh. Vì vậy những góp ý trên đây với tác giả Giáp Văn Dương cũng chỉ là một nỗ lực nhỏ nhoi với hy vọng cùng góp thêm vài suy nghĩ nhỏ cho một vấn đề lớn mà tác giả Giáp Văn Dương đã là người nêu rõ ra trong bối cảnh rối bời và nhiều phần rất lâm nguy của đất nước hiện nay.

Phạm Hồng Sơn
17/8/2011

Phụ lục:

Thoát Trung Luận
Giáp Văn Dương

Thời gian gần đây, khi thảo luận về những nguy cơ đối với nước ta trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, về lựa chọn mô hình phát triển cho Việt Nam, về tình hình tranh chấp Biển Đông…, một số người thuộc giới trí thức trong và ngoài nước, dù chưa chính thức, cũng đã ít nhiều đi đến một nhận định chung: Cần thoát khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc!
Tuy nhiên, nhận định này chưa bao giờ được viết ra một cách mạch lạc, có hệ thống, và dường như chỉ mới dừng ở mức trực giác. Vì thế, một bài luận nhằm phân tích rõ ràng về nhận định quan trọng này là cần thiết.
*
* *
Tư tưởng thoát khỏi Trung Quốc thực ra không hề mới. Lịch sử nước ta có thể được diễn giải tương đối đầy đủ dưới góc nhìn thoát Trung. Phần lớn các cuộc khởi nghĩa, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta đều mang trong mình một thông điệp nóng hổi: Thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc!

Sự kiện dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa và giành lại được độc lập sau gần một nghìn năm Bắc thuộc là một sự kiện hy hữu trên thế giới. Đó là kết quả của một quá trình thoát Trung bền bỉ kiên trì. Sau khi giành được độc lập, quá trình này được tiếp nối không chỉ ở các cuộc kháng chiến vệ quốc, mà còn ở các nỗ lực giữ gìn ngôn ngữ, văn hóa ở các triều đại sau này.

Khi còn nhỏ, tôi đã từng ngạc nhiên khi đọc bài hịch của vua Quang Trung khích lệ tướng sĩ trước khi ra trận: “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để răng đen…”. Tôi đã tự hỏi, vì sao nhà Vua không chọn những biểu tượng lớn lao hơn mà lại chọn những điều nhỏ nhặt như vậy để động viên quân sĩ? Nhưng càng ngày tôi càng thấm thía: Đó là lòng kiên định của tổ tiên nhằm thoát khỏi vòng kiềm tỏa của nền văn hóa Trung Hoa, ngay từ những việc nhỏ nhất.

Ý thức vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này là thường trực. Tuy nhiều lúc bị chao đảo bởi sự tấn công mạnh mẽ đến từ phương Bắc, nhưng mỗi khi cần đến thì ý thức vùng thoát này lại bùng lên dữ dội. Nỗ lực xây dựng chữ viết riêng cho dân tộc như chữ Nôm của cha ông, và gần đây nhất là việc toàn dân đồng loạt chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, là minh chứng rõ ràng cho sự vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này.

Riêng với việc chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, có thể nói, đây là một cuộc thoát Trung ngoạn mục. Thành quả của nó thật đáng nể: Số người biết đọc biết viết tăng lên gấp bội, số lượng văn bản sử dụng chữ quốc ngữ chỉ trong một thời gian ngắn đã tăng lên gấp nhiều lần so với số văn bản chữ Nho của toàn bộ lịch sử nước ta trước đó. Cũng chính nhờ chữ quốc ngữ mà về mặt hình thức, ngôn ngữ của chúng ta đã thoát khỏi vòng kiềm tỏa của tiếng Hán. Tỷ như đến giờ phút này, nước Việt ta vẫn dùng chữ Nho để viết và giao tiếp với thế giới, thì đối với họ, ta có khác nào một quận huyện của Trung Quốc? Ta sẽ gặp khó trong việc thuyết phục họ rằng, ta là một quốc gia độc lập, có ngôn ngữ và văn hóa riêng.

Tên gọi của nước ta cũng không phải là một sự ngẫu nhiên. Đằng sau mỗi cái tên đều là một lời nhắn nhủ hoặc một mong đợi sâu thẳm. Ông cha ta đã chọn hai chữ Việt Nam để đặt làm tên nước. Việt Nam có nghĩa là tiến về phương Nam. Điều này có nghĩa là gì? Chỉ có thể cắt nghĩa: Tiến về phương Nam để thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Đó là di lệnh của tổ tiên cho các thế hệ con cháu người Việt Nam mình.

Như thế, tổ tiên chúng ta bằng kinh nghiệm và trực giác, thông qua cách chọn tên nước, đã di lệnh cho con cháu: Muốn tồn tại thì phải tiến về phương Nam, thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Lịch sử mở nước của chúng ta trong thời cận đại có thể được hiểu là gì khác hơn việc thực hiện di lệnh của tổ tiên mình?

Nhưng điều không may cho chúng ta là nền văn hóa Trung Hoa có sức ảnh hưởng quá lớn. Nó như một đại nam châm hút các dân tộc xung quanh về phía mình. Nên dù luôn có ý thức vùng thoát khỏi ảnh hưởng của người Trung Quốc, dù đã được cha ông di lệnh kỹ càng, thì lịch sử của Việt Nam luôn là sự giằng xé giữa hai luồng vận động: Vùng thoát khỏi Trung Quốc và chầu về Trung Quốc.
Sở dĩ có sự giằng xé này là vì, trong suốt thời phong kiến, do sự hạn chế của phương tiện giao thông, thế giới bên ngoài đối với nước ta dường như chỉ có một mình Trung Quốc. Khi người của ta chưa đủ đông, kinh tế của ta chưa đủ mạnh, văn hóa của ta chưa đủ trưởng thành, thì việc chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa cũng là điều dễ hiểu.

Nhưng ngày nay, thời thế đã đổi thay. Một em bé sinh ra ở một vùng quê hẻo lánh cũng có đủ thông tin để biết rằng, thế giới không chỉ có một mình Trung Quốc. Thế giới còn có nhiều nền văn hóa khác, mang nhiều giá trị tiến bộ hơn, đáng học hỏi hơn nền văn hóa Trung Hoa, đến mức bản thân người Trung Quốc cũng phải mau mau thay đổi để học hỏi những điều tiến bộ này. Trên thực tế, những vùng nào của Trung Quốc gỡ bỏ được một phần văn hóa Trung Hoa truyền thống để du nhập các giá trị văn hóa phương Tây như các Hồng Kông, Đài Loan… thì đều phát triển vượt bậc so với những phần còn lại của Trung Quốc lục địa.

Nhiều nước châu Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore cũng đã tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa thành công và trở thành những con rồng con hổ châu Á mới. Họ không chỉ giữ được độc lập, mà còn tiến nhanh thành một nước phát triển, được thế giới kính nể trọng vọng.

Hãy lấy trường hợp Nhật Bản làm ví dụ: Bằng cách thực hiện cuộc thoát Á nhập Âu từ nửa sau của thế kỷ 19, Nhật Bản đã tránh được ách nô lệ thực dân và phát triển thành cường quốc chỉ sau một thời gian ngắn. Thoát Á với Nhật Bản thời gian đó là gì, nếu không phải là thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa? Vì vậy có thể nói, chìa khóa để Nhật Bản phát triển thành công là thoát khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Vậy thì tại sao chúng ta lại không làm như họ? Tại sao ta lại không vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc để phát triển, khi gương thành công đã bày ra trước mắt cả trăm năm, khi di lệnh của tổ tiên vẫn còn bên tai văng vẳng?

Câu trả lời chỉ có thể là: Tư tưởng chầu về Trung Quốc đã trở thành một quán tính tâm lý, một vô thức xã hội hay một phản xạ có điều kiện. Tư tưởng này đã ăn sâu vào đời sống ở nhiều dạng nhiều mặt nên khó lòng dứt bỏ được. Với người dân thì đó là sự tiếp nhận văn hóa Trung Hoa một cách vô tư hào hứng qua phim ảnh, sách báo… đến mức trẻ em thuộc sử Tàu hơn sử Ta, quen với đồ chơi Tàu hơn đồ chơi Ta. Thương nhân ta thì chỉ chăm chắm nhập hàng Trung Quốc giá rẻ về bán cho dân, dù biết là hàng kém và có nhiều độc hại. Ở mức quốc gia thì đó là sự ràng buộc đến mức vô lý về ý thức hệ vào người Trung Quốc, dẫn đến thua thiệt và bất bình đẳng trong bang giao quốc tế.

Những việc này đều diễn ra một cách trơn tru tự động, đến mức không mấy ai tự hỏi: Vì sao mọi chuyện lại quá dễ dàng như vậy? Câu trả lời hẳn nhiên là tư tưởng chầu về Trung Quốc đã bén rễ sâu trong tiềm thức của xã hội ta như một chất gây nghiện, tuy độc hại nhưng rất khó từ bỏ. Vì nếu từ bỏ thì sẽ gây ra đau đớn và chống chếnh phần nào. Nhưng từ xưa đến nay, có chất gây nghiện nào có lợi?

Trong hoàn cảnh đó, chỉ còn một cách duy nhất là quán chiếu để nhìn sâu hiểu kỹ tác hại của việc chầu về Trung Quốc, để thấy được mối nguy lâu dài của nó đối với đất nước thì may ra mới có thể dứt bỏ được.

Trước hết là về văn hóa: Có so sánh ra bên ngoài mới thấy, bản sắc văn hóa của ta quá đỗi mong manh. Lý do chính là văn hóa của ta đã bị áp đảo bởi văn hóa Trung Hoa trong suốt nhiều thế kỷ, nay càng bị áp đảo mạnh hơn bởi tiến bộ của phương tiện truyền thông. Nhiều người khi còn sống thì một chữ tượng hình bẻ đôi không biết, nhưng khi chết thì lại được cúng tế bằng các bài văn khấn chữ Nho. Chuông, khánh trong chùa dù mới đúc, cũng hết thảy được khắc bằng thứ chữ của người Hán dù chẳng ai đọc được. Truyền thanh truyền hình, tuy sống bằng tiền thuế của dân Việt Nam ta, lại ngày đêm truyền bá văn hóa Trung Hoa đến tận hang cùng ngõ hẻm. Thời sự hơn nữa thì phim về tổ tông được quay bên Trung Quốc, Vạn Lý Trường Thành được mang về Đà Lạt… Ôi thôi, biết bao nhiêu mà kể!

Xin hỏi: Một dân tộc được định hình chính bởi cái gì? Có phải là bởi đất đai, tài nguyên của dân tộc đó hay không? Chắc hẳn là không. Người ta phân biệt dân tộc này với dân tộc khác bởi chính văn hóa của nó. Nay văn hóa của ta đang bị áp đảo mà dân ta lại vui vẻ cổ vũ chấp thuận, thì khác nào tay ta đã yếu, mắt ta đã chậm mà ta lại tự mua dây về bịt mắt trói tay mình?

Chính do sự áp đảo của văn hóa Trung Hoa nên những thói hư tật xấu của họ đã tìm được đất sống và tác oai tác quái ở ta. Nạn chuộng bằng cấp hư danh, tệ mua quan bán chức, thói tầm chương trích cú, ếch ngồi đáy giếng, ngông nghênh coi thường chân lý, bệnh phụ mẫu quan phương, chính trị thống soái …– những đặc trưng của văn hóa hủ nho Trung Quốc không hề giảm đi trên đất Việt Nam ta mà ngược lại, như rồng gặp nước, múa may phát triển tràn lan, biến hóa gây hại không biết bao nhiêu mà kể. Vì sao vậy? Vì không sáng tạo ra chỉ học đòi bắt chước, nên nhiều người mang lòng kính sợ, nhất nhất tuân theo không dám đổi thay, nên chỉ nhăm nhắm chầu về, nghiêm cẩn như học trò đối với ông thầy.

Nay những thói hư tật xấu này đang tác oai tác quái làm suy đồi văn hóa và đạo đức của ta quá thể. Bệnh hình thức hư danh, tật khoe khoang thành tích, thói hành dân, nịnh trên lừa dưới, tệ chạy chức chạy quyền… đã thành phổ biến , nên không còn cách nào khác là phải dứt bỏ để học những giá trị tiến bộ của phương Tây như dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, thực học thực nghiệp… thì mới có thể tiến kịp người.

Ta phải tự gỡ bỏ tấm khăn đang bịt mắt ta ra, phải vứt bỏ sợi dây đang trói buộc mình thì bàn tay khối óc mới được giải phóng, hoa thơm trái ngọt của sự sáng tạo mới được thành tựu. Còn như chỉ mê muội sùng kính những thứ người ta đã phải bỏ đi, thì mãi lếch thếch lôi thôi cũng là điều tất yếu!

Thứ hai là về kinh tế: Việt Nam ta đang bị áp đảo trong thương mại đối với người Trung Quốc. Nhập siêu từ họ lên đến 90% so với tổng nhập siêu của cả nước ta. Trong khi đó, xuất khẩu từ ta sang họ chỉ chiếm một phần rất nhỏ, lại chủ yếu là nguyên liệu thô và hàng nông sản, là những thứ mà giá trị chẳng được bao nhiêu. Vậy có thể nói, về kinh tế, chúng ta đang phụ thuộc vào họ một cách nặng nề. Nền kinh tế của ta đang ở mức chông chênh, có thể sụp đổ khi họ chủ tâm đóng cửa.

Nhưng điều đáng lo hơn cả là những người có thẩm quyền lại không thấy sự bất thường này. Những dự án lớn hầu hết đều rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Tỷ như, 90% các dự án tổng thầu gần đây đã rơi vào tay họ. Chất lượng của những công trình này rất kém, vì một lẽ giản đơn: Trình độ về công nghệ của họ còn thấp, việc tôn trọng môi trường và văn hóa bản địa họ chẳng quan tâm. Hàng hóa xuất phát từ Trung Quốc luôn bị thế giới cảnh báo là độc hại và kém chất lượng. Chính họ đã gây ra nhiều vấn nạn về văn hóa và môi trường trong nước họ. Vậy thử hỏi, vẫn những con người đó sang nước ta thì làm sao có thể làm tốt cho được?

Đáng tiếc thay, tư duy chộp giật, “sống chết mặc bay tiền thày bỏ túi” của nhiều người có trách nhiệm đã dung túng tình trạng này, gây hại lâu dài cho nền kinh tế. Việc này ta phải trách ta trước hết, vì nếu ta không tiếp tay thì làm sao họ có thể tác oai tác quái. Tiếp tay cho họ hại mình, thời buổi cạnh tranh, hỏi có khác nào mua dây để tự trói chân mình. Mà đã mua dây để tự trói chân mình thì làm sao có thể đi nhanh đi xa cho được?

Chính vì thế, bên cạnh việc vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa về văn hóa, chúng ta cần tìm cách thoát khỏi vòng kiềm tỏa về kinh tế. Nhà nước cần có chính sách giảm thiểu nhập siêu từ Trung Quốc, khuyến khích người trong nước sản xuất kinh doanh. Người Việt phải xây dựng được một nền kinh tế độc lập so với người Trung Quốc, phải mở được những lối đi riêng, tạo dựng được những mô hình phát triển khác hẳn so với họ. Phải phấn đấu trở thành hội điểm đầu tư và thương mại toàn cầu. Việc này nói thì dễ mà làm thì rất khó. Nhưng không vì thế mà không gắng sức, vì tương lai dân tộc phụ thuộc phần nhiều vào chính chỗ này.
Thứ ba là về chính trị: Nước ta đang có một sự ràng buộc kỳ quặc về ý thức hệ đối với người phương Bắc. Họ làm gì thì sớm muộn ta cũng làm theo như bị thôi miên. Rất nhiều khổ đau trong lịch sử của ta đã có nguồn gốc từ việc làm theo như họ.

Dân ta khác, phong hóa của ta khác, đất đai vị thế của ta khác, vậy hà cớ gì ta phải dập khuôn theo? Đành rằng, trước đây ta chỉ biết đến Trung Hoa nên triều chính phải rập khuôn bắt chước, tuy đáng trách những có thể cảm thông. Nhưng nay thế thời đã đổi, thế giới đã mở rộng muôn phương, mà sao ta vẫn nhăm nhắm hướng về phương Bắc? Bao phen cửa nát nhà tan, bị đè đầu cưỡi cổ, mà sao vẫn chưa hết tỉnh hết mê? Lẽ nào, luồng tư tưởng chầu về Trung Quốc, tưởng chừng sẽ nhạt đi khi thế giới được mở rộng ra, lại một lần nữa giở trò mánh khóe kéo chìm ta xuống đáy?

Vì sao vậy? Vì đâu vậy? Vì sự u mê đã đến mức thâm căn cố đế, hay vì đặc quyền đặc lợi của một nhóm người? Di lệnh của tổ tiên và những bài học lịch sử vì sao không còn tác dụng? Dù câu trả lời là thế nào đi chăng nữa thì trên thực tế, sự ràng buộc kỳ quặc về ý thức hệ này đã gây ra nhiều thua thiệt cho ta trong quốc tế bang giao, làm mất đi nhiều cơ hội làm ăn của ta với thế giới bên ngoài. Người ngã xuống vì biên cương hải đảo ta cũng chẳng dám vinh danh… Hỡi ôi!
Thời thế đã đổi thay. Thế giới ngày nay không chỉ có một mình Trung Quốc. Đoàn thuyền ra khơi phần đông đều đi theo một hướng, vậy lẽ gì ta phải tách nhóm đi riêng với kẻ vẫn bắt nạt mình? Sợi dây trói tay trói chân gỡ ra còn chưa được, vậy cớ gì ta lại mua dây để tròng đầu tròng cổ ta thêm?

Và cuối cùng là chủ quyền bị đe dọa: Khi chân tay ta bị trói, đầu cổ ta cũng chẳng được tự do, mắt ta cũng bị buộc nhìn về một hướng, thì thân thể ta làm sao mà vẹn toàn tự chủ? Sự trỗi dậy của người Trung Quốc tất yếu dẫn đến việc họ mở rộng biên giới quốc gia. Tranh chấp với xung quanh là điều khó tránh khỏi. Điều này họ đã công khai thừa nhận. Biển Đông đã nổi sóng. Giờ việc ta cần làm là hãy nhanh nhanh tự cởi trói cho mình, làm cho ta hùng mạnh thêm lên thì mới có thể giữ được vẹn toàn cương thổ.

Khi lực ta còn yếu thì mắt ta phải nhìn xa trông rộng, phải tìm cách kết thân với những kẻ có thế có quyền, có cùng lợi ích cùng mối lo âu để đồng tâm đối phó. Muốn vậy ta phải thiện chí thành tâm, đặt lợi ích quốc gia lên trên những tính toan nhỏ nhặt. Tình thế đã trở nên nguy ngập. Nước Việt ta đang đứng trước một lựa chọn lịch sử: Thoát Trung để phát triển hay cam tâm làm nô lệ một lần nữa?
Là người Việt, không ai muốn trở thành nô lệ ở bất cứ dạng nào. Điều này có nghĩa, lựa chọn duy nhất là vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người Trung Quốc để phát triển.

Vậy thì, hãy làm một cuộc thoát Trung toàn diện để hội nhập cùng thế giới và kiến tạo một kỷ nguyên phát triển mới!
Hãy tỉnh cơn mê, dứt cơn mộng mị! Hãy từ bỏ chất gây nghiện chầu về Trung Quốc! Hãy cởi bỏ tấm khăn bịt mắt! Hãy vứt sợi dây đang trói tay, trói chân, tròng cổ, tròng đầu!
Hãy trở về với di lệnh của tổ tiên: Thoát Trung hay là chết!