Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảng CSVN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảng CSVN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

Anh Tập đi Trung Đông

Khải Minh

Giấc mơ bá chiếm thiên hạ của Thiên tử nòi Hán quả là một giấc mộng  kê vàng.  

Câu chuyện Lư Sinh nằm mộng được thành đạt lẫy lừng, rồi tiếp theo sau đấy lại bị đầy ải khổ nhục hết biết. Đến khi choàng dậy tỉnh mộng, Lư thấy sư phụ Lữ ông, vẫn đang lui cui rang chảo kê chưa kịp chín!  Điểm khác nhau giữa câu chuyện nước Tầu và  Lư sinh là khi tỉnh ngộ, biết được lẽ vinh nhục đáo đầu, chàng Lư bèn lập tâm tu tập, còn các Hoàng Đế Thiên Triều thì không. Họ dần đưa nước Tầu nếm mùi nhục nhiều hơn vinh ngay trong đời thường mà vẫn u mê. Cha truyền con nối, họ tiếp tục dẫn đưa nước Tầu nối tiếp kinh qua những trường đại…ác mộng!

Tập đi Trung đông, chuyến này là chuyến đi đầu tiên sau khi lên cầm quyền từ ba năm trước, cũng là một chứng thực rằng lịch sử thì hay tái lập.  Bay một vòng qua các nước Ai cập, Saudi Arabia và Iran trong tuần qua (từ 19/1/2016 đến 23/1/2016) cũng có thể xem tương tự như cuộc tìm kiếm thuộc địa của Trung Quốc hai nghìn năm trước tại vùng Trung và Tây Á.

Đến Ai cập để nhắc lại ‘tình xưa nghĩa cũ’. Ai Cập là một trong những nước đầu tiên công nhận Trung Quốc năm 1956 và cũng lại là đồng hội đồng thuyền trong cái gọi là tổ chức các quốc gia phi liên kết (non-aligned). Hai nước Iran và Saudi Arabia là hai nước cung ứng dầu cho Trung Quốc lớn nhất trong hơn hai thập niên qua đến nay.

Mục đích chuyến đi, được ‘công bố’ là nhằm thúc đẩy chương trình tái lập một mạng lưới ‘con đường tơ lụa’ kết nối các khu vực thương mại trong vùng, từng chính thức lập ra trong đời Hán (206 BC-220 AD).

Mộng mà. Tha hồ thả hồn theo tham vọng dẫn đưa.

Tập cầu tìm quan hệ kinh tế chặt chẽ về năng lượng, xuất khẩu, an ninh năng lượng. Tập lại muốn xây dựng quan hệ về chính trị, quân sự, ngoại giao …để tạo ấn tượng Trung Quốc ngày nay đã đến lúc trở về vị trí là một quyền lực quan trọng trên thế giới, như hơn hai ngàn năm trước.

Có những thực tế vạch ra nguyên nhân vì sao giấc mộng kê vàng này tái sinh. Là một công xưởng cho thế giới, và là nền kinh tế số 2 trên toàn cầu, lại bàn cứ trên một vùng đất cạn sạch tài nguyên so với nạn nhân mãn, hẳn nhiên Trung Quốc khát dầu, mà Trung Đông lại là nơi cung ứng hơn nửa số dầu để Trung Quốc có thể giữ nền kinh tế của họ vận hành.

Khi những kẻ độc miệng phê phán rằng trước giờ Mỹ xen lấn vào tình hình Trung Đông vì Mỹ muốn cầm nắm nguồn cung ứng dầu tại đó.  (Operation Iraqi Freedom, viết tắt là OIF, tên gọi chính thức của chiến dịch đánh Iraq lật đổ Saddam Hussein - bước đầu của chiến dịch lớn hơn là Operation Enduring Freedom, để chống khủng bố toàn cầu - bị mỉa mai sửa thành Operation Iraqi Liberty, viết tắt là OIL, Dầu, để ám chỉ Mỹ khuấy đảo Trung đông vì dầu.  Trung Quốc cũng không ít lần kết án, tố cáo Mỹ.)

Có thể không sai, miễn đừng quên là Mỹ chỉ nhập khẩu dưới 13%  nhu cầu về dầu khí của họ từ Trung đông.  Trung Quốc lại là nước ngốn nhiều dầu Trung Đông nhất!

Hơn nữa, người ta đồ rằng, Trung Quốc quan tâm về khu vực Trung Đông vì nơi này có thể là địa bàn để đào tạo, cung ứng phương tiện, là hậu phương cho các tổ chức Hồi giáo ly khai phía Tây Trung Quốc, nơi có khoảng hơn 40 triệu người Hồi giáo.  Nghe có lý. Thế sao họ chả lo từ sớm, mà đợi mãi đến nay?

Chính sách của Hoa Kỳ dưới các nhiệm kỳ chính phủ của Obama ‘có vẻ’ muốn nhường việc thiên hạ cho thiên hạ lo.  Sự rút quân vội vã ra khỏi Iraq và sự thay đổi sách lược ngoại giao tại vùng Trung Đông do vậy đã tạo ra một khoảng trống quyền lực quân sự và chính trị tại đó. Rối ren các loại được dịp bùng lên. Một trong các hệ quả là Nga chụp lấy cơ hội, nhân danh chống IS để nhảy vào bành trướng ảnh hưởng. Âm mưu gì chưa rõ, nhưng ai cũng thấy rõ là Nga đang ‘ôm đầu máu’.

Nhưng chuyện Nga đang cố đóng vai trò quan trọng hơn tại Trung Đông khiến anh Tập bâng khuâng … Anh sợ mất thời cơ!

Trước giờ, họ Tập luôn mồm cổ xúy cho Chương Trình Con Đường Tơ Lụa, còn gọi là ‘một vành đai, một con lộ’ (One Belt, One Road – Nhất Đái, Nhất lộ).  Theo đấy, Trung Quốc có tham vọng thành lập một hành lang kinh tế thương chạy dọc theo con đường tơ lụa ngày xưa, xuyên qua Tây Á, Trung Á, Trung Đông, đến tận Âu châu. Chương trình này còn bao gồm một tuyến thủy lộ nối liền Trung Quốc với các hải cảng ở Phi châu, lên kênh đào Suez, và tiến vào Địa Trung Hải.  Thủy lộ xuyên vùng biển Đông của Việt Nam là một phần quan trọng của tuyến thủy lộ này vì nằm ngay cửa ngõ giao thương chiến lược của Trung Quốc.

Dưới thời nhà Hán, con đường tơ lụa được xem như con đường thương mại chính của vùng trung tâm Á châu. Thương mại phát triển phồn thịnh dẫn theo các trao đổi, phát triển ngoại giao, văn hóa, kiến trúc … Hôm thứ Tư tuần qua, Trung Quốc công bố hồ sơ ‘Chính Sách Ả Rập’, nội dung có nhắc lại hào quang ngày cũ, với hàm ý rằng những ngày vàng ấy có thể tái lập lại thời nay.

Các sử gia thì ghi nhận giá trị quan trọng nhất của con đường tơ lụa là sự trao đổi về văn hóa và tư tưởng giữa các nước trong vùng. Các nhà nghiên cứu thì lại kết luận là văn hóa tư tưởng Trung Quốc hiện nay rất xa lạ với văn minh Ả Rập, nếu không muốn nói thậm chí chống chọi nhau. Ngày xưa, dưới các triều đại Hán, Đường, văn minh văn hóa, tôn giáo, của Trung Hoa có nhiều thứ để đóng góp vào nền văn minh Đông phương.  Ngày nay dưới triều đại Cộng sản Trung Quốc thì chẳng những vô thần mà còn triệt phá tôn giáo.  Sự đàn áp dã man dân Hồi giáo vùng Tân cương, các giáo phái Cơ đốc, và Pháp Luân Công đủ nói lên điều này. Ngược lại, văn minh Ả Rập lại hội nhập tôn giáo vào đời sống hằng ngày, ngay cả trong cơ chế chính trị và luật pháp.

Ngày xưa, nước Trung Hoa mở con đường tơ lụa mang bán cho thiên hạ.  Ngành thời trang của nước Ý vẫn ‘khét tiếng’ đến ngày nay vì Ý là cửa ngõ của Âu châu trông ra Địa Trung Hải.  Ngày nay anh Tập không đi bán hàng, anh vác tiền đi mua dầu.  ‘Vai mang túi bạc kè kè, nói quấy nói quá, người nghe ầm ầm’.

Thế là, cả ba quốc gia nói trên đều đồng thanh ủng hộ chương trình tơ lụa, giấc mộng vàng của họ Tập.  Sao không được chứ?  Người Hoa mại bản hay nói ‘đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn’. Vài mươi tỉ đô hứa hẹn đầu tư tại Ai Cập, và hợp đồng mua bán dầu khổng lồ hàng 600 tỉ đô tại mỗi nước kia, và một lô mấy chục hợp đồng hợp tác kinh tế, thì khác biệt chống chọi văn hóa, tư tưởng, tôn giáo gì gì cũng dường như được san bằng, giũa tròn, và làm sáng mắt, dịu giọng mọi phe trong cuộc.  Ít ra trong giai đoạn này, khi giá dầu lao dốc không phanh, Saudi rất cần khách hàng ổn định,  vì lổ thủng ngân sách quá lớn, và phải lâm chiến với IS để giữ ngai vàng, còn Iran thì đang lóp ngóp bước ra khỏi cấm vận, còn quẩn quanh chưa biết bán dầu cho ai! Từ căn bản đồng thuận này Trung Quốc hy vọng sẽ nhân lên thành một sự đồng thuận với tất cả các quốc gia trong vùng Trung Á về chương trình con đường tơ lụa.

Về phần Trung Quốc, thì việc toàn cầu hóa đồng Nhân Dân Tệ (NDT) có lẽ cũng là một mục tiêu. Giá dầu được định bằng NDT, nếu xẩy ra, là một thắng lợi chiến lược cho Trung Quốc trong việc đưa ra một cấu trúc tài chính mới xây dựng trên đồng NDT. Từ đó Trung Quốc sẽ sử dụng cơ sở tại Trung Đông để kiêm luôn vai trò là cửa ngõ tài chính trên thực tế cho khối các nước Phi châu kế bên, vốn là một địa bàn quyền lợi rất lớn và béo bở của Trung Quốc mà họ đã âm thầm xâm thực lâu nay.

Về chính trị và quân sự,  trước giờ Trung Quốc chỉ phải lo những chuyện phên dậu, phiên bang (Tây Tạng, Mông Cổ, Việt Nam …)  Hiện nay họ tin là đến lúc họ phải bành trướng thế lực lên mức chiến lược toàn cầu cho xứng tầm với sức mạnh kinh tế và quân sự đang có trong tay!  Việc nhẩy vào Trung Đông cũng là hành động ứng phó với sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ trong sân sau của họ tại Thái Bình Dương, và đối với vị trí thượng phong và quan hệ chiến lược giữa Hoa Kỳ và hầu hết các nước trong vùng Trung Đông bấy lâu nay, nhất là từ sau trận chiến tại Iraq và chiến dịch chống khủng bố toàn cầu do Hoa Kỳ lãnh đạo.  

Các dữ kiện này khiến Trung Quốc luôn cảm thấy thất thế. Họ tìm mọi cách hóa giải. Từ việc xây ống dẫn dầu xuyên Trung Á cho đến xây cảng dầu khí ở Miến Điện, Trung Quốc muốn đi tắt, khỏi phải qua thủy lộ biển Đông, vòng qua eo biển Malaca, ra Ấn Độ Dương,  là các nơi Hải quân Hoa Kỳ luôn luôn có khả năng khống chế.

Ngay trước chuyến đi Trung đông, có vấn đề Trung Quốc sẵng sàng gởi quân qua tham chiến ở nước ngoài trong cuộc chiến chống khủng bố. Động thái này được xem như một cách làm dáng, ra vẻ ta đây cũng sẵn sàng tham gia vào sự nghiệp công ích hòa bình thế giới.

-
Trung Quốc lo lắng vì Việt Nam?

Điều khôi hài đáng ghi nhận mà không sợ lạc đề ở đây, là đang khi anh Tập làm dáng oai phong cho chuyến đi Trung Đông, thì tại Việt Nam, giữa lúc cơn lên đồng giành giật ngai vàng cao nhất của Đảng Cộng sản, nhiều tin đồn đoán thứ thiệt thật giả được rỉ rò, bú mớm, xào xáo, tung ra tứ phía làm rối mù con mắt thiên hạ. Người bảo kẻ này theo Tàu, kẻ bảo người kia tham nhũng không xứng ngai vàng. Mớ bòng bong bùn lầy tứ tung không biết đâu mà lường. Nhưng có một cái rõ ràng và đã dứt khoát bất biến, bất cứ cái ngai vàng của Đảng sắp tới giật về cho ai, đó chính là: “dân chủ xã hội chủ nghĩa” –  dân được quyền làm chủ xuống hố cả nút vì...Đảng. Nói vì Tàu, vì anh Tập đã sang tận nơi chỉ đạo, đã thao túng, đã chọn lựa, chỉ định sẵn trước Đại hội thì cũng không hoàn toàn sai. Vì nếu không có sao phát ngôn nhân của Đảng lại phải thanh minh thanh nga rằng “Trung Quốc không thể tác động vào đại hội 12 của Đảng”. Nhưng đổ hết cho Tàu và anh Tập thì có lẽ hơi…oan quá. Hãy nhìn lại chuyến vượt biên đơn độc lén lút của Hồ sang Tàu vào đầu năm 1950 hay cả bầu đoàn thê tử có cả đệ tử ruột của Hồ sang chầu chực ở Thành Đô năm 1990 thì hỏi là do ai xúi bẩy, ai lôi kéo hay tự Đảng tự nguyện chui vào rọ…Tàu? Lại có người biện minh tại những hồi đó Đảng lẻ loi, cô độc nên bĩ cực làm…liều. Vậy thử hỏi hiện nay Đảng đã làm gì trước sự mời gọi của Hoa Kỳ, Liên Âu, Phi Luật Tân? Lại nói “phe thân phương Tây” phải chấp nhận bỏ cuộc, thúc thủ trước kết quả bầu bán như thế là vì phe thân Tàu quá mạnh cũng không phải không đúng. Nhưng biết là yếu sao không lấy sức mạnh vô song của dân chủ, nhân quyền để “thế thiên hành đạo” hay cũng chỉ rặt một phường lấy vỏ bọc thân Tây để lụy Tàu cho đẹp mặt?

Vì vậy anh Tập đang còn phải sắm vai quân tử Tầu đi mua dầu, ai rảnh đâu lo cho việc xem như đã xong ở xứ cựu An Nam!  Nhưng có, anh Tập đã đồng ý cho hầu cận sang để úy lạo mừng “Đại hội thành công” rồi đấy.

Trung Quốc luôn luôn trị quốc bằng biến pháp. Trong lịch sử cận đại từ Tôn Dật Tiên, đến Mao, đến Đặng, chính sách đối với các dân tộc thiểu số và đối với các phiên bang dã man như thế nào bất tất phải nói thêm. Riêng đối với Việt Nam, chính sách của Trung Quốc hiện nay chưa có bất cứ một thay đổi gì từ biến pháp của Đặng. (Khi Liên Xô tan vỡ đầu thập niên 1990s, có kẻ lãnh đạo Việt Nam chạy qua quỳ lạy van, xin nhưng Đặng không thèm tiếp, chỉ nhắn lời vắn tắt đại khái là: Trung Quốc –Việt Nam vẫn là đồng chí, hết là đồng minh!)  Ai nói người Cộng sản Việt Nam không biết mơ nào?  Có điều, rặt những ‘giấc mộng con’, nhỏ mọn ti tiểu, chỉ giỏi ức hiếp, hợm hĩnh với...dân mình.
-
Trở lại vấn đề, lâu nay quan hệ của Trung Quốc trong vùng Trung đông và Phi châu cũng chỉ là quan hệ trục lợi về kinh tế. Dù người Hoa có bị IS bắt chém đầu tại Syria, dù tàu bè Trung Quốc có bị bắn phá, thủy thủ bị bắt làm con tin tại Phi châu, họ có vẻ muốn dành các việc ấy cho các nước khác lo. Năm ngoái anh Tập cũng đã hủy chuyến đi Trung Đông vì ‘né’ không dám dây vào đang lúc cuộc nội chiến tại Yenmen đang bùng lên, có sự tham gia chi phối của Saudi Arabia và Iran. Và tại Trung đông, chưa bao giờ Trung Quốc dám len vào rắc rối lớn nhất, lâu đời nhất là xung đột giữa Do thái- Palestine. Nên lần này, nhìn vẻ mặt thân thiện của Tập với lãnh đạo Saudi Arabia và Iran, là hai nước có xung đột nghiêm trọng và đang trên bờ chiến tranh - vì vụ xử tử một giáo sĩ Hồi giáo, phái cực đoan Shiite nổi tiếng tại Riyadh - thì cũng chả ai dám tin là Trung Quốc sẽ đóng một vai trò trung gian hòa giải thành thật gì đâu. Anh Tập còn đang mơ chuyện khác…

Anh Tập lại có vẻ muốn chơi sang kiểu Mỹ. Chưa bao giờ Trung Quốc đưa ra một hồ sơ về chính sách tại Trung đông. Lần này chẳng là Tập muốn tỏ ra là một nhà lãnh đạo quốc tế có trọng lượng, quang minh chính đại, bằng việc công bố hồ sơ chính sách nêu trên.

Rõ ràng, là muốn chơi trội, để cả thế giới Trung Đông hiểu rằng, anh Tập là dân chơi quốc tế thứ thiệt, anh không phải chủ tiệm mì hoành thánh, anh không rao bán phá xắn hay tơ lụa gì, anh có tiền và anh có quyền, muốn gì là báo thẳng, có giấy tờ, chứ không úp mở. Anh Tập mơ làm Hán Vũ Đế, anh mơ là Đường Minh Hoàng…

Trong giấc mộng vàng, làm gì có chiến tranh hay các rắc rối khác, thực tế thì anh Tập với thói tinh ranh ích kỷ hại nhân cố hữu của một tay mại bản người Hoa, muốn tránh né mọi trách nhiệm, mọi khó khăn trở ngại để theo đuổi việc tìm kiếm cơ hội phát triển kinh tế bên ngoài để xây dựng bên trong theo biến pháp của họ Đặng đề ra từ cuối thập niên 1970.

Nhưng, được thế hay không lại là chuyện khác. Cả Iran và Saudi Arabia đều có trong tay rất nhiều phe đảng.  (Iran có lực lượng cố vấn quân sự nằm vùng tại Iraq, chí nguyện quân tại Syria, bộ hạ tại Palestine và tay chân trong Hezbollah …vốn rất chuyên nghiệp trong các công tác ủy nhiệm. Saudi qui tụ được lực lượng khoảng 30 nước trong một liên minh chống IS gần đây…) Trong bối cảnh xung đột chính trị và tôn giáo triền miên trong khu vực Trung Đông và trong tình huống đang sôi sục hiện nay, coi bộ anh Tập khó tránh được bị cuốn vào những trận can qua như mong ước. Một khi quyền lợi Trung Quốc gia tăng mạnh, cũng có nghĩa là có ngày các quyền lợi ấy sẽ bị đánh phá nếu anh Tập không có lời đáp thỏa đáng. Ngày ấy là ngày khi một hay nhiều bên có xung đột hỏi thẳng Tập câu hỏi ‘Người ấy và em, anh chọn ai?’

Giời ạ, hãy nhìn xem Trung Quốc hôm nay!  Kinh tế hàng thứ nhì trên thế giới là tính theo sản lượng cả nước, nhưng tính theo bình quân thu nhập đầu người, ngoại trừ tham quan và bọn doanh gia nhóm lợi ích đầu sỏ (vested interests), đa số cháo không có mà ăn mỗi bữa. Kinh tế đứng hàng thứ nhì, mà biến đất nước thành cái bãi rác công nghiệp khổng lồ, và hơn hai trăm ngày khói ô nhiễm phủ đen trời ngay tại thủ đô Bắc Kinh! Nợ công trong nước là hơn 28 ngàn tỉ Đô hiện không hề có một cách gì giải quyết thỏa đáng. Ngoại tệ dự trữ đang là 4.500 tỉ Đô, giữ trong US Treasury Bonds như một loại 'của để dành', mà nay chỉ còn khả năng chi tiêu dưới một ngàn tỉ trong số ấy.  Số này vẫn là tiềm năng lớn ư?  Nhầm đấy, chỉ riêng tuần qua, chính phủ Trung Quốc phải bù lỗ gần 50 tỉ Đô cho thị trường chứng khoán khỏi thở hắt ra chết tốt. Theo đà này, dưới ngàn tỉ Đô đủ bù lỗ được bao lâu?  Mau lắm hả?


Thì đã bảo là giấc mộng kê vàng đó thôi.

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

Ai? Đảng nào?

Phạm Hồng Sơn

Trong tác phẩm Chính trị học (Πολιτικά) viết cách đây hơn 2300 năm, Aristotle đã có những nhận xét thẳng thắn nhưng không mấy sáng sủa về con người:  “con người muốn cầm quyền mãi mãi”, “luyến ái thường gây chao đảo lòng người”,  “con thú dục vọng và tham vọng luôn gây hủ bại trí não và tâm hồn kẻ cầm quyền, ngay cả khi họ là những người tốt nhất”, “con người dễ hư hỏng”.[i]

Cũng trên tinh thần cảnh giác đó, năm 1788, trong Luận về chính quyền (Federalist) số 51, tác giả Publius[ii] đã nêu ra nhận định:

Nếu con người là thiên thần, chính quyền sẽ thừa. Nếu thiên thần quản trị con người, các phương tiện kiểm soát chính quyền, cả trong lẫn ngoài, đều không cần.” Vì tất cả chúng ta không phải là thiên thần, hay thánh thần, Publius viết tiếp một cách sáng suốt và công bằng thế này:

Nhưng khi phải thiết kế một chính quyền để con người quản trị con người thì nan giải lớn nhất nằm ở đây: Đầu tiên phải tạo điều kiện để chính quyền kiểm soát được người bị trị. Tiếp theo là phải buộc được chính quyền tự kiểm soát được chính nó. Và, chắc chắn, kiểm soát cơ bản đối với chính quyền là bắt nó phải lệ thuộc vào nhân dân.

Nhìn vào các chính quyền, với nhiều tên gọi và nhiều “đổi mới” khác nhau, do người cộng sản thiết kế và dựng lên ở Việt Nam từ trước tới nay, chúng ta phải công tâm thừa nhận rằng: Lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã xuất sắc tạo ra các phương tiện và điều kiện để kiểm soát chặt chẽ dân chúng - người bị họ cai trị. Song, vế bên kia, như đề xuất của Publius, hầu như không có một cơ chế nào để Đảng Cộng sản Việt Nam biết tự tiết chế, kìm hãm những hành vi đục khoét, sách nhiễu, trấn áp hoặc kiểm soát quá đà nhân dân. Còn, “kiểm soát cơ bản” - bắt chính quyền phải lệ thuộc vào nhân dân, như Publius nhấn mạnh - thì hoàn toàn không.

Đến như báo chí tư nhân hợp pháp, đã có nhiều ở thời thuộc Pháp và có rất nhiều trong thời Việt Nam Cộng Hòa, người cầm quyền cộng sản cũng không để cho tồn tại, thì nói gì tới những công cụ “kiểm soát cơ bản” khác như hội đoàn tư nhân, biểu tình, đảng đối lập, tư pháp độc lập hay bầu cử tự do và công bằng, v.v.

Có lẽ trong sự quẫn bách âu lo cho vận mệnh dân tộc, nhiều người vẫn đang cố kiên trì đánh tiếng cổ xúy, vận động cho ông này, ông kia, thuộc phe (giả định) này, phe (giả tưởng) kia lên nắm chức tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII. Ngoại trừ các cổ xúy có ngòi bút đã bị xoắn theo chiều bổng lộc, đã để ngọn lửa ân oán riêng tư bốc quá cao hoặc là một hỗn hợp của cả hai, những tiếng nói đó, quả thực, không phải không gây cảm kích lòng người.

Nhưng lấy gì để đảm bảo cho những kẻ, là con người chứ không phải thiên thần, đoạt được quyền trong một chính thể hoàn toàn vắng “kiểm soát cơ bản” gạt được các dục vọng của bản thân và vượt lên được những hiểm nguy của cá nhân để phụng sự nhân dân, đất nước?

Lấy gì để chắc chắn những kẻ thâm như Tàu đã tỏ rõ quyết tâm xâm lược, quen trấn áp, tàn sát chính đồng bào của chúng sẽ không rắp tâm hăm dọa, mua chuộc, trừ khử mọi mầm độc lập, tiến bộ (nếu có) trong một chính thể đã thề nguyền “răng môi”, “16 vàng, 4 tốt”?

Ai, đảng cầm quyền nào có thể dựa vào lòng dân khi chính quyền của họ chuyên chĩa mũi súng “chống khủng bố” vào nhân dân; và luôn gọi đổng nhân dân tiến bộ là “thù địch”?

Ai? Đảng nào?



[i]       Aristotle, Politics, Books III-V, The Great Books Foundation, Chicago, 1955, trang 13, 33, 37, 100. Quí vị có thể đọc bản dịch Anh ngữ tại đây. Hoặc mua bản dịch Việt ngữ tại đây.
[ii]      Publius là bút danh chung của ba chính trị gia người Mỹ, Alexander Hamilton (1755-1804), James Madison (1751-1836) và John Jay (1745-1829). Tác giả của bài luận số 51 này đến nay vẫn chưa xác định được chính xác là ai giữa hai người, Madison và Hamilton. Các trích dẫn ở đây thuộc bản dịch (chưa xuất bản) của Phạm Hồng Sơn. Quí vị có thể xem nguyên bản Anh ngữ tại đây.

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

Một kết luận

Phạm Hồng Sơn

Mọi liệt kê tội ác đều thiếu sót. Liệt kê sau đây chắc chắn cũng thế.

Chỉ muốn làm “một góc nhìn khác” thôi. Bắt.
Chỉ muốn “phá vòng nô lệ” thôi. Bắt.
Chỉ muốn làm “người lót gạch” thôi. Bắt.
Chỉ muốn “chuyên chở sự thật” thôi. Bắt.

Chế độ nào mà phản động, tàn ngược thế?

Hồ Giáp Đồng Chinh Duẩn… và đảng cộng sản đó.

Họ đã chết hết rồi mà?

Nhưng vẫn còn nhiều người chống lưng, bám víu, trông chờ, ẩn nấp vào đảng cộng sản, vẫn còn nhiều người là đảng viên cộng sản, vẫn còn nhiều người tỏ lòng yêu quí, ngưỡng mộ họ.

Kết luận: Tất cả những Trí Thức vẫn bày tỏ tin tưởng, vẫn còn trong đảng cộng sản, vẫn bày tỏ kính trọng Hồ Giáp, nếu không phải vì miếng cơm manh áo cho người lầm than khác (chứ không phải cho bản thân), đều là lũ người Vô Sỉ, tiếp tay cho Tội Ác và chính là Tội Ác.○

(Hai ngày sau khi Nhà văn Nguyễn Quang Lập, chủ blog Quê Choa bị bắt)


Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

Biển Đông đã mất? (2)


Phạm Hồng Sơn

Không phải là Biển Đông (phần 2)

Biển Đông hay Dương Nội?

Suốt những ngày “dàn khoan HD 981” vừa qua, và sẽ còn nhiều những sự kiện tương tự “dàn khoan” khác trên Biển Đông, có nhiều người đã khổ rồi lại khổ hơn, có những vấn đề đã xấu rồi lại thành xấu hơn vì những nỗi khổ, vấn đề đó bị lu mờ đi rất nhiều do “Biển Đông”.

Hãy để cho trí tưởng tượng được bay bổng. Bỗng một ngày tiềm lực Trung Cộng suy sụp tới mức không còn đủ sức để duy trì chiếm giữ Hoàng Sa, Trường Sa nữa, họ rút đi hết cả quân lẫn dân và vứt lại đó cả bản gốc Công hàm Hồ Chí Minh 1958. Nhưng tôi tin những dân oan mất đất ở Dương Nội (hay Tiên Lãng, Xuân Quang, Vụ Bản, Bình Dương, Đắc Lắc, Cà Mau,…) sẽ không đi lấy đảo, lấy công hàm về làm gì một khi chế độ chính trị Việt Nam vẫn là độc tài toàn trị. Không ai lại dại tới mức đi lấy của cải từ một kẻ cướp để đưa vào tay một kẻ cướp khác.

Giới hàn lâm đã chứng minh một trong những đóng góp lớn cho tiến bộ của nhân loại trong luật La Mã là khái niệm dominium (proprietory power-quyền sở hữu, sức mạnh sở hữu) trong đó có sở hữu đất do mình khai phá, bỏ tiền ra mua hoặc được thừa kế. Quyền đó hay sức mạnh đó tạo cho con người một động lực, một nền tảng vững chắc tiềm ẩn trong việc chống lại cường quyền, khiến xã hội loài người công bằng hơn. Theo họ, khái niệm đó không chỉ giúp con người giữ được những gì họ có mà còn bảo tồn được nhân phẩm và các phẩm tính người khác (human faculties).[i] Nói một cách dung dị, bạn và tôi sẽ yên tâm hơn, tức có nhiều chí khí và sức lực hơn, nếu mảnh đất mà chúng ta đã bỏ không ít tiền ra mua và lại phải đóng thuế hàng năm không còn thuộc “sở hữu toàn dân” nữa. Do đó không phải ngẫu nhiên các chế độ cộng sản hậu kỳ ngoan cố đã chuyển sang tư bản đỏ luôn luôn không chịu nhả một chút gì về quyền sở hữu đất.

Nhưng nói như thế không có nghĩa quyền sở hữu đất là vấn đề quan trọng nhất hiện nay. Có những vấn đề khác, quyền khác cũng quan trọng không kém như tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, v.v.

Cần phải dành quan tâm và ưu tiên sức lực cho những vấn đề nào, quyền nào để cứu nước Việt Nam, để Việt Nam được tự do hơn? Không dễ có câu trả lời ngay, nhưng chắc chắn không phải là Biển Đông.

Thành thật vẫn tốt hơn

Charles Fenn, người đã giới thiệu Hồ Chí Minh vào làm việc cho OSS (Office of Strategic Services-Cục Công tác Chiến lược, tiền thân của CIA) trong giai đoạn sắp kết thúc Thế chiến II, một lần đã nêu băn khoăn với Hồ về việc Việt Minh là tổ chức cộng sản, Hồ trả lời: “Người Pháp đều gán cho mọi người Việt Nam muốn giành độc lập là cộng sản.[ii]

Đó chỉ là một trong nhiều lần Hồ Chí Minh lẩn tránh thừa nhận gốc gác cộng sản của mình khi làm việc hay tiếp xúc với những người Mỹ trong giai đoạn hữu nghị ngắn ngủi Việt (cộng sản)-Mỹ 1944-1946.

Báo cáo mật (đã được bạch hóa) của Bộ quốc phòng Mỹ, the Pentagon Papers, cho biết từ cuối 1945 tới đầu 1946 Hồ Chí Minh đã gửi ít nhất 8 (tám) lá thư thỉnh cầu tới Tổng thống Truman và Bộ Ngoại Giao Mỹ để được hỗ trợ trong việc giành độc lập từ người Pháp và ủng hộ cho chính phủ mới thành lập “Cộng hòa Dân chủ của Việt Minh” (Democratic Republic of Viet Minh). Tất cả những lá thư đó đều không được hồi âm.[iii]

Nhưng the Pentagon Papers ghi lại một điện tín của Ngoại trưởng George C. Marshall gửi cho sứ quán Mỹ tại Paris: “…Mặt khác chúng ta cũng không phải không biết là Hồ Chí Minh có liên hệ trực tiếp với Cộng sản và rõ ràng là chúng ta không thú vị gì khi thấy một chính quyền thuộc địa lại được thay thế bằng tư tưởng và bằng các tổ chức chính trị chịu sự chỉ đạo và kiểm soát bởi Kremlin.[iv]

Cũng cần nhớ lại trước khi kết thúc Thế Chiến II, Hồ Chí Minh (và Việt Minh) đã là một đối tác đắc lực của OSS trong các điệp vụ thông tin chống Nhật và giải cứu các binh sỹ Mỹ bị kẹt ở Đông Dương. Bản thân Hồ Chí Minh đã từng đích thân lặn lội đường rừng đưa một phi công Mỹ (bị rơi ở Bắc Việt Nam) trở về căn cứ bên Trung Hoa.[v] Vấn đề cần đặt ra là tại sao ngay sau đó chính quyền Mỹ lại phớt lờ các thỉnh cầu của Hồ Chí Minh cho sự nghiệp rất phù hợp với lý tưởng của nước Mỹ lúc đó: tự do và giải thuộc địa.[vi] Tới nay chúng ta đã rõ nguyên nhân chính của sự lạnh nhạt đó là do giới làm chính sách của chính quyền Mỹ đã biết rõ Hồ Chí Minh và Việt Minh là cộng sản. Tuy nhiên, nguyên nhân đó đúng (về cơ bản) nhưng chưa đủ. Còn một nguyên nhân nữa, có thể rất nhỏ nhưng lại không kém quan trọng trong quan hệ con người, đó là Hồ đã để lại cảm giác là một con người rất khéo léo hơn là chân thực đối với nhiều người Mỹ.[vii]

Nhưng Hồ Chí Minh không chỉ xử sự kiểu đó với người Mỹ. Ngay sau khi ký Hiệp định sơ bộ (6/3/1946) - chấp nhận cho quân Pháp trở lại Bắc Việt thay thế quân Tưởng - dư luận đã nổi lên một làn sóng phản đối, nghi ngờ có động cơ mờ ám, Hồ đã thân chinh đứng trước công luận thề: “Tôi (Hồ Chí Minh) thà chết chứ không bán nước!”. Đúng, bây giờ chúng ta đã biết Hồ Chí Minh không bán nước trừ việc Hồ Chí Minh và chính quyền do ông làm Chủ tịch nước và Chủ tịch đảng, chỉ vì cần có thêm vật chất và tinh thần để Nam tiến “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, đã công nhận rằng cả hai quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa) là thuộc chủ quyền nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hồ Chí Minh cũng từng cam đoan trước quốc dân đồng bào: “Tôi chỉ có một Đảng - đảng Việt Nam”, ngầm ý không phải đảng cộng sản. Nhưng sự thật hoàn toàn không như thế. Hồ Chí Minh còn ước khi qua đời sẽ được gặp ngay “cụ Các-Mác, cụ Lê-Nin[viii] – những ông tổ của chủ nghĩa cộng sản.

Nhìn lại bối cảnh Việt Nam thời kỳ 1945 chúng ta thấy nếu việc Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường cộng sản trước đó là việc đã rồi, và cũng không phải chỉ có một mình Hồ chọn, thì việc “bài vở” với các đối tác Mỹ hay việc nhất nhất phải tiếp tục theo cộng sản để giành độc lập lại là những việc không bắt buộc phải xảy ra[ix]. Và nếu như chỉ không xảy ra những kiểu mưu mẹo vặt đó thôi, rất có thể lịch sử Việt Nam đã khác rất nhiều.

Bi kịch của ảo tưởng

Mùa xuân năm 1975, khi Mỹ đã rút hết quân khỏi Việt Nam Cộng Hòa và trước ngày Sài Gòn sụp đổ, Ngoại trưởng Nhật hốt hoảng gọi sang Mỹ, trong đó có đoạn: “Thế còn chúng tôi? Nếu chúng tôi bị tấn công, các ngài có chơi một cú như ở Việt Nam rồi lại lên tàu về nước không?”. Ở sát bên cạnh, chính quyền Nam Hàn cũng hỏi: “Nếu Kim Nhật Thành và lính Bắc Hàn tràn qua biên giới, chúng tôi có thể trông cậy vào các ngài, được hay không?[x]

Người Nhật và Hàn, dù có mấy chục ngàn quân Mỹ đang đồn trú, vẫn bất an là rất đúng, không chỉ vì vai trò tối quan trọng của Mỹ trong đảm bảo an ninh quốc tế mà rất có thể những người Nhật, Hàn còn là những người thuộc sử Mỹ.

Năm 1778 nước Mỹ non trẻ, vừa tuyên bố độc lập đã ký một hiệp ước liên minh với Pháp để có thêm hỗ trợ trong cuộc chiến khó khăn với nước Anh hùng mạnh. Nước Pháp đã giúp không chỉ tiền bạc, vũ khí, phương tiện, tinh thần mà cả con người để những nhà cách mạng lập quốc Mỹ như George Washington, Thomas Jefferson, Alexander Hamilton đi tới chiến thắng cuối cùng với người Anh và giành độc lập. Đầu tháng Hai năm 1793 Pháp tuyên chiến với Anh. Nhưng chưa đầy hai tháng sau, cuối tháng Tư năm 1793, đích thân Tổng thống Mỹ George Washington tuyên bố Tuyên cáo Trung lập (Proclamation of Neutrality), đơn phương cắt bỏ liên minh với Pháp. Đương nhiên Tổng thống Washington nói riêng và người Mỹ nói chung phải có những lý do rất chính đáng cho sự bỏ rơi đồng minh ân nhân của mình như lập luận của Alexander Hamilton: “Hiệp ước Mỹ-Pháp đã chết vì người ký phía Pháp - Vua Louis XVI- không còn nữa, vừa bị chặt đầu.” Nhưng ai cũng biết đứng sau những chữ “vì” kiểu đó là suy tính tối cao cho quyền lợi của một nước Mỹ còn rất non yếu. Vì, nếu cần làm ngược lại, người Mỹ vẫn có nhiều chữ “vì” khác để duy trì hiệp ước bảo vệ đồng minh như lập luận của Thomas Jefferson: “Hiệp ước Mỹ-Pháp là một khế ước giữa hai quốc gia hơn là giữa hai chính quyền.[xi] Nhưng nhìn ở mặt kia, Pháp liên minh với Mỹ cũng xuất phát từ việc nhìn thấy những mối lợi mà Cách mạng Mỹ sẽ mang lại cho Pháp: làm suy yếu đối thủ Anh láng giềng truyền kiếp, mở ra một thị trường lớn cho các nhà công nghiệp Pháp,…, và cả thỏa mãn sự mến mộ vùng đất lý tưởng cho giới trí thức tinh hoa Pháp.[xii] Có thể nói câu chuyện lịch sử ngoại giao vừa kể có thể đính với nhiều nhãn khác nhau, bất tín, đồng vụ lợi, phản bội, ngờ nghệch hay công bằng, thường tình, đều được cả.

Thế giới hiện nay và nước Mỹ ngày nay có thể đã rất khác so với cách đây 200 năm hay 40 năm trước. Nhưng nếu chúng ta chỉ xem lại vài lời phàn nàn của Ngoại trưởng Ba Lan mới đây hoặc nhìn vào những chuyển động ráo riết trong chính sách quốc phòng của Nhật đang diễn ra thì sẽ thấy có những qui luật muôn đời không đổi: Trời (người) chỉ giúp những kẻ tự biết giúp mình mà thôi.

Và còn một ảo tưởng nữa cũng có thể xảy ra: Mỹ đối đầu Trung Cộng.

Lý Quang Diệu, người đã đưa Singapore từ “thế giới thứ ba” lên “thế giới thứ nhất” chỉ trong vòng 35 năm, là chính trị gia gốc Hoa thường được giới lãnh đạo Mỹ và phương Tây tham vấn[xiii], từng rất ác cảm với Trung Quốc và cộng sản[xiv], đã nhận định và dự đoán:

Hoa Kỳ dù sao cũng không thể kham và cũng sẽ không muốn ghánh hoàn toàn phí tổn của an ninh toàn cầu nữa…[xv] (năm 1991)

Qui mô dịch chuyển cân bằng toàn cầu của Trung Quốc sẽ buộc thế giới phải lập ra một cân bằng mới trong 30-40 năm tới. Không thể giả vờ cho rằng Trung Quốc chỉ là một đấu thủ lớn. Đó sẽ là đấu thủ lớn nhất trong lịch sử thế giới.[xvi] (năm 1993)

Hoa Kỳ không thể kìm được sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ có thể chấp nhận sống cùng với một Trung Quốc lớn hơn và sẽ hoàn toàn mới đối với Hoa Kỳ. Trong 20-30 năm tới, Trung Quốc sẽ thành một đối tác mà không đối tác nào đủ lớn để thách thức… Trung Quốc sẽ không để cho một cơ quan tài phán quốc tế nào phân định về các tranh chấp ở biển Hoa Nam (Biển Đông), vì vậy sự hiện diện của quân lực Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương là cần thiết để Luật của Liên hợp Quốc được thực thi.[xvii] (năm 2011)

Khi được hỏi Hoa Kỳ nên tránh những chính sách và hành động như thế nào đối với Trung Quốc đang trỗi dậy, Lý khuyên: “Ngay từ đầu đừng đối xử với Trung Quốc như kẻ thù. Nếu ngược lại, nó sẽ triển khai một chiến lược phản công gây tổn hại cho Hoa Kỳ ở châu Á Thái Bình Dương, thực tế là nó đang bàn tính về một chiến lược đó rồi. Sẽ không tránh được sự tranh giành giữa hai quốc gia về tầm ảnh hưởng thống soái trong khu vực Tây Thái Bình Dương, nhưng điều đó không cần thiết phải dẫn đến xung đột (năm 2011). Cần phải thuyết phục để Trung Quốc hiểu rằng Hoa Kỳ không muốn phá vỡ Trung Quốc để nó có thiện chí nhiều hơn trong việc bàn thảo, hợp tác trong các vấn đề an ninh và ổn định thế giới (1996). Gia tăng hiểu biết, trao đổi văn hóa giữa hai bên và giảm sự mẫn cảm về nhân quyền có thể giúp quan hệ hai nước đỡ căng thẳng, đối đầu hơn (năm 1993).”[xviii]

Hẳn Lý Quang Diệu hiểu rằng tất cả chúng ta vẫn nhớ Trung Cộng và Hoa Kỳ là hai cường quốc sở hữu bom nguyên tử - một phương tiện đã chứng tỏ khả năng ngăn chặn hữu hiệu mọi va chạm lớn giữa các bên sở hữu trừ khi có một bên muốn tự hủy diệt cùng toàn bộ nhân loại.

Trong thế kỷ XX, Việt Nam đã phải chịu một bi kịch thảm hại có gốc từ niềm tự hào được làm “vị trí tiền đồn của chủ nghĩa xã hội[xix] và từ sự quá trông cậy vào Mỹ tới mức thiếu tự lực, mất nội lực. Có nhiều lý do đứng sau những nguyên nhân gốc đó nhưng ít nhiều đều có dự phần của sự chủ quan, tự đại đến mức ảo tưởng. Ngày nay, một thời đại với nỗi lo khủng bố luôn thường trực trong đầu các lãnh đạo phương Tây cùng “sự thức giấc của con rồng Trung Hoa”[xx] ở ngay bên cạnh thì nguy cơ Việt Nam biến thành một con tốt kiểu mới cùng sự ảo tưởng được che chở kiểu mới cũng là những điều không phải không thể tái diễn.

Kỷ luật hay là chết?

Cecil B. Currey khi viết về kỷ luật của Việt Minh trước khi giành chính quyền đã thuật lại lời Tướng Giáp cho biết Việt Minh khi hoạt động ở miền sơn cước đã tuân thủ nguyên tắc nghiêm cẩn tới mức tất cả đàn bà, con gái ở đó đều tin rằng cánh đàn ông Việt Minh là những người “được sinh ra không có chim” (made without cocks).[xxi]

Trong hồi ký, Từ nhân dân mà ra, Tướng Giáp cũng kể lại chuyện sau lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân: “Nhân dân và các đoàn thể mang tới rất nhiều quà ủy lạo. Nhưng bữa chiều hôm đó, theo yêu cầu của số đông anh em, chúng tôi đã ăn một bữa cơm nhạt, không rau không muối, để nêu cao tinh thần của những chiến sỹ cách mạng.[xxii]

Còn đây là chuyện của lão thành cộng sản cao cấp Đoàn Duy Thành khi từ nhà tù Côn Đảo trở về với Đảng:

Sau khoảng một tuần nghỉ ngơi cho lại sức, tôi bước vào giai đoạn thẩm tra việc bị bắt, bị tù... Thành ủy lập riêng một tổ thẩm tra do đồng chí Hoàng Mậu, Khu ủy viên Khu ủy Tả Ngạn, Bí thư Thành uỷ Hải Phòng làm tổ trưởng (cựu tù chính trị Côn Đảo thời kỳ 1930-1936); đồng chí Lê Thành Dương, Phó ban Tổ chức Thành uỷ và đồng chí Đào Luyện, Trưởng phòng chính trị Ty Công an làm uỷ viên. Trong hơn hai tháng thẩm tra, tôi chỉ ở nhà chú Siêu thôn Đồn Xá, trừ 3 ngày phải di chuyển sang Hải Dương vì có tin địch tấn công vào Thái Bình phải tạm lánh sang huyện Ninh Giang, Hải Dương.

Việc phải trả lời gần 100 câu hỏi của Tổ thẩm tra tôi chẳng thấy có gì khó chịu cả, viết hết hàng mấy tập giấy cũng không biết mệt, chỉ mong sao được tiếp tục công tác.

Tôi phải viết rất nhiều báo cáo, riêng báo cáo về nhà tù Côn Đảo tôi viết xong ngày 9-12-1953 đã hàng mấy chục trang, nay còn lưu trữ ở Cục Lưu trữ Trung ương Đảng. Đến gần Tết âm lịch 1953-1954, việc thẩm tra việc tôi bị bắt và bị tù đã xong.
[xxiii]

Dù ba ghi chép trên có bao nhiêu phần trăm sự thật, điều đó cũng cho thấy việc giành được quyền lãnh đạo (độc đoán) của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là một ngẫu nhiên hay một chuyện chơi như đi phượt.

Trong cạnh tranh chính trị có hai yếu tố chính để tạo/giành niềm tin nơi công chúng, đó là sức mạnhkỷ luật. Đương nhiên, kỷ luật phải là cái có trước.

Và dù kỷ luật của ngày hôm qua không còn phù hợp với ngày hôm nay những  người Việt Nam muốn xã hội tiến bộ không thể từ chối kỷ luật. Khi phân tích một cách hệ thống và sâu sắc về hệ thống xã hội chủ nghĩa, Kornai János cũng đi đến một kết luận có thể làm châm ngôn chung cho tất cả những người đấu tranh trong những xã hội mà chế độ trấn áp đã nắm quyền: “Phong trào sẽ không tồn tại được nếu không có kỷ luật.” [xxiv]

Nhưng sẽ xây dựng kỷ luật bằng cách nào trong một môi trường của truyền thống trễ hẹn, quên lời hứa, huyênh hoang, cẩu thả, kèn cựa được pha trộn với hiện đại McDonald’s, porno, Viagra, sex toy, selfie?

Vô thường

Thoắt ngày nào tiếng voi rống rền còn nghe thảm gần sông Hát. Mới ngày nào biên thổ nước Việt phía Nam chỉ ngấp nghé Thanh Nghệ. Vệt người gồng ghánh theo chúa Nguyễn vượt đèo Ngang vẫn lượn vòng ngay trước mắt. Tiếng gươm khua, ngựa hý, đắp đường, mở kênh, xây thành phương Nam vẫn dồn dập, vang vọng quanh đây. Những thành quách, đền đài Angkor, Indus, Maya vẫn sừng sững trầm mặc, im lìm. Người ở đâu, hồn quốc ở đâu?

“Ba xứ non sông một giải liền,
Máu đào, xương trắng, điểm tô nên.
Cơ trời dù đổi trò tang hải,
Mặt đất chưa tàn nghiệp tổ tiên.
Có nước, có dân, đừng rẻ rúng,
Muốn còn, muốn sống phải đua chen.
Giật mình nhớ chuyện nghìn năm cũ,
Chiêm-Lạp xưa kia vốn chẳng hèn.”[xxv]


(Hết)

* Cập nhật ngày 03/11/2016: Ghi chú số iii dưới đây đã được bổ khuyết dựa trên một bài viết của nhà báo Đinh Từ Thức.



[i] Richard Tuck, Natural Rights Theories: Their origins and development, Cambridge University Press, 1979, chương I.
[ii] Dixee R.Bartholomew-Feis, The OSS and Ho Chi Minh-Unexpected Allies in the War Against Japan, University Press of Kansas, 2006, trang 154.
[iii] The Pentagon Papers – the secret history of the Vietnam war, the complete and unabridged series as published by The New York Times, Bantam Book, July 1971, trang 3-5, 26. Lưu ý: The Pentagon Papers là một nghiên cứu bí mật do Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, trước khi rời nhiệm sở do bất đồng, chỉ thị thực hiện nhằm tìm hiểu quá trình Mỹ can dự chiến tranh Việt Nam 1945-1968. Nghiên cứu có độ khả tín lớn bởi hai yếu tố: những người tham gia đều có tính tự nguyện và được giữ bí mật về danh tính; nền tảng của nghiên cứu là các thông tin đã cố định (các tài liệu, văn bản, chứ không phải hồi ký, hồi ức hay phỏng vấn, liên quan của Bộ Ngoại Giao, Bộ Quốc Phòng, CIA, Văn phòng Tổng thống,…). Nghiên cứu này đã được các tờ báo như The New York Times, Washington Post tiết lộ lên mặt báo vào tháng 06/1971 qua các bài tường thuật, nhận định của các nhà báo của từng bản báo. Sau đó xảy ra vụ kiện rất lớn nhằm cấm đăng tải, đưa tin về "báo cáo mật" với lý do “phương hại ngay lập tức và không sửa chữa được đối với lợi ích của Hoa Kỳ và an ninh quốc gia”. Nhưng chỉ 15 ngày sau, Tòa án Tối cao Mỹ đã phán quyết các tờ báo được tiếp tục đăng tải dựa trên Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Mỹ: Quyền tự do báo chí. Tuy nhiên khi đọc các tài liệu (bài viết) được các báo đăng tải hay in thành sách, chúng ta cần thận trọng về tính khách quan và sự đúng đắn trong các nhận định, bởi, như trong lời giới thiệu của cuốn sách đã nhắc, chúng không thể tránh được sự phản ánh quan niệm, suy nghĩ hay thiên kiến riêng của người viết ra nó. Ngoài ra ngay tính "vô danh" của những người thực hiện nghiên cứu mật của Bộ quốc phòng Mỹ cũng có thể đưa đến tính "vô trách nhiệm" với nhiều mức khác nhau.
[iv] Sách đã dẫn, trang 7-8.
[v] Người Mỹ còn từng có kế hoạch đưa Hồ sang San Francisco để thực hiện các bản tin chiến tranh bằng tiếng Việt qua radio phát về Đông Dương. Dixee R.Bartholomew-Feis, The OSS and Ho Chi Minh-Unexpected Allies in the War Against Japan, University Press of Kansas, 2006, trang 153.
[vi] Tháng 08/1941, Tổng thống Roosevelt cùng Thủ tướng Anh Churchill đã ra một tuyên bố sau này mang tên Hiến chương Đại Tây Dương (the Atlantic Charter) khẳng định Hoa Kỳ và Anh sẽ không có ý định tìm kiếm thôn tính lãnh thổ của các nước khác, nêu quan điểm ủng hộ quyền tự quyết của các dân tộc, giải thể chế độ thực dân, kiến tạo hòa bình và gia tăng phúc lợi cho thế giới. Đầu năm 1945 Tổng thống Roosevelt còn chỉ thị cho nhân viên Mỹ không được giúp hay cộng tác với người Pháp ở Đông Dương. (The OSS and Ho Chi Minh-Unexpected Allies in the War Against Japan, University Press of Kansas, 2006, trang 116). Khi Truman lên nắm quyền, sau khi Roosevelt qua đời 12/04/1945, cũng từ chối đề nghị của Pháp giúp đỡ vũ khí hay phương tiện chuyển quân vào Đông Dương để đánh Việt Minh (The Pentagon Papers, trang 8).
[vii] Trong bối cảnh sắp kết thúc Thế Chiến II, Hồ Chí Minh đã có tiếp xúc trực tiếp với nhiều người Mỹ - những người thực hiện sứ vụ chống Nhật tại Đông Dương. Những người Mỹ đó gần như chia ra hai phía, một thiện cảm và một thiếu thiện cảm, có những người rất khen tới mức ngưỡng mộ (Charles Fenn) và có những người rất chê đến mức ghét bỏ (René Défourneaux). Nhưng có hai điểm nổi rõ trong các ghi chép, hồi tưởng về các cuộc tiếp xúc đó: Hồ không thành thật về nguồn gốc cộng sản của bản thân và Hồ mập mờ về chính sách (theo cộng sản hay tư bản) của chính quyền (sắp hoặc mới lập). Archimedes L.A. Patti (trưởng nhóm OSS tại Đông Dương), người làm việc với Hồ nhiều lần, rất có thiện cảm với Hồ và Việt Minh tới mức đã bị cấp trên khiển trách nhiều lần về biểu tỏ quá thiên Việt Minh, cũng nhận xét Hồ là “ông già cáo” (sly ‘old man’), “ông trùm mưu mẹo lợi dụng” (a master of conspiratorial maneuvers). Patti cũng có nhận xét khá thất vọng nhưng rất phù hợp với những gì thực tế đã diễn ra sau đó rằng Hồ chỉ muốn làm mọi thứ để “bỏ đi cái mác cộng sản”, vì bị nhiều người nhất là giới trung lưu Việt Nam e sợ, “hơn là xa rời tư tưởng cộng sản”. Archemedes Patti, Why Vietnam? – Prelude to America’s Albatross, University of California Press, 1980, trang 87, 235, 333; Tham khảo thêm: Dixee R.Bartholomew-Feis, The OSS and Ho Chi Minh-Unexpected Allies in the War Against Japan, University Press of Kansas, 2006.
[viii] Hồ Chí Minh để lại di chúc trong đó có câu: “Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác,…”. Hồi ký của Vũ Kỳ (Thế Kỷ ghi), Bác Hồ viết di chúc, Nxb Văn hóa Thông tin, 2008, trang 8.
[ix] Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh thành lập từ năm 1945 đến đầu 1950 không được quốc gia nào công nhận, kể cả Liên Xô và Trung Hoa cộng sản. Nhưng từ 06/1948 Pháp đã công nhận độc lập và chủ quyền ba miền Việt Nam cho Nhà nước Quốc gia (đứng đầu là cựu hoàng Bảo Đại) nằm trong Liên hiệp Pháp. Mỹ cũng công nhận và công khai trợ giúp cho Nhà nước Quốc gia ngay khi Liên Xô và Trung Cộng (mới thắng quân Tưởng) công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào đầu năm 1950. Cho dù việc Pháp công nhận độc lập và chủ quyền ba miền Việt Nam cho Nhà nước Quốc gia của Bảo Đại chỉ là một biện pháp tình thế và nhiều phần còn là hình thức nhưng là một thừa nhận quan trọng về chính trị và điều này cũng cho thấy việc giành độc lập từ tay người Pháp cho Việt Nam không bắt buộc phải thông qua con đường cộng sản và chiến tranh của Hồ Chí Minh.
[x] François Missoffe, Duel Rouge, Éditions Ramsay, 1977, trang 92.
[xi] Joseph J. Ellis, American Creation – triumphs and tragedies at the founding of the republic, Alfred A. Knopf of Random House, 2007, trang 187.
[xii] Samuel Eliot Morison, The Oxford history of the American people, New York-Oxford University Press, 1965, trang 251-256.
[xiii] Henry Kissinger coi Lý là lãnh đạo thế giới từng gặp mang lại cho Kissinger nhiều hiểu biết nhất, Lý là “con người có trí tuệ và sức phán đoán hơn người”. Fareed Zakaria kinh ngạc về “sự hiểu biết sâu sắc về thế giới – Trung Quốc, Nga và Hoa Kỳ - của một người đã 85 tuổi.”; Tổng thống Nixon từng tham vấn Lý trước khi tiếp xúc để nối quan hệ với Trung Cộng năm 1972; các đời tổng thống Mỹ khác, nhiều thủ tướng Anh, thủ tướng Đức, tổng thống Pháp, lãnh đạo Trung Cộng, nhiều lãnh đạo quốc tế khác từng làm việc với Lý đều đánh giá cao Lý. Margaret Thatcher cho biết khi còn làm việc bà luôn “đọc và phân tích mọi phát biểu của Lý”. Tony Blair đánh giá Lý là “lãnh đạo thông minh nhất mà tôi từng gặp.” Barack.Obama: “Lý là một trong những nhân vật huyền thoại của châu Á trong thế kỷ 20, 21.” Thủ tướng Đức Helmut Schmidt: “Kể từ khi gặp Lý Quang Diệu, tôi bị ấn tượng mạnh bởi trí lực xuất sắc và sự đánh giá thẳng thắn của ông.” Nguồn: Alex Josey, Lee Kuan Yew-The crucial years, Times Books International, 1995 (xuất bản lần 10, lần đầu năm 1968); Graham Allison, Robert D. Blackwill, Ali Wyne, Lee Kuan Yew- The grand master’s insights on China, the United States, and the World, Belfer Center for Science and International Affairs, 2013.
[xiv] Năm 1973 Lý từng thổ lộ “sẽ là người cuối cùng tới Trung Quốc”; Khi Mao chết, mặc dù vẫn bày tỏ chia buồn với lãnh đạo Trung Cộng nhưng Lý ra lệnh ngay cho lực lượng an ninh: “Phải kiểm soát chặt hơn tất cả các nhóm cộng sản.” François Missoffe, Duel Rouge, Éditions Ramsay, 1977, trang 171.
[xv] Graham Allison, Robert D. Blackwill, Ali Wyne, Lee Kuan Yew- The grand master’s insights on China, the United States, and the World, Belfer Center for Science and International Affairs, 2013, trang 40.
[xvi] Sách đã dẫn, trang 42.
[xvii] Sách đã dẫn, trang 42, 39.
[xviii] Sách đã dẫn, trang 43-45.
[xix] Hồ Chí Minh phát biểu trong Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III ngày 5/9/1960:"Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của lực lượng hòa bình dân chủ, xã hội chủ nghĩa trên thế giới... Chúng ta có nhiệm vụ giữ vững vị trí tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á, ra sức góp phần tăng cường lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và trên toàn thế giới." Trích từ Văn kiện Đảng về chống Mỹ cứu nước, Tập 1, NXb Chính trị Quốc gia, 2011, trang 447.
[xx] Napoléon Bonaparte 1 đã nói: “Khi Trung Quốc thức giấc, thế giới sẽ phải run rẩy” (Quand la Chine s’éveillera… le monde tremblera.), trích theo Alain Peyrefitte, Quand la Chine s’éveillera… le monde tremblera, Fayard, 1973.
[xxi] Cecil B. Currey, Victory at any cost, The Warriors edition, 2005, trang 65.
[xxii] Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, Nxb Công an Nhân dân, 2011 (Tổng tập Hồi ký Võ Nguyên Giáp), trang 91.
[xxiii] Đoàn Duy Thành, Làm người là khó, xuất bản trên Internet.
[xxiv] Kornai János, Hệ thống xã hội chủ nghĩa – chính trị kinh tế học phê phán, tổng quan kinh tế xã hội chủ nghĩa, người dịch Nguyễn Quang A, Nxb Văn hóa Thông tin, 2002, trang 55.
[xxv] Nhượng Tống (1904-1949), Cảm đề lịch sử.

Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014

Biển Đông đã mất? (1)

Phạm Hồng Sơn

Đừng để người ta cười (phần 1)

Hổ thẹn


Theo tôi, bất cứ ai có trí tuệ bình thường đã đọc kỹ hai văn bản này và là người có lòng công bằng, bất thiên vị, vẫn thừa nhận tính chính đáng của chính thể cộng sản Việt Nam đều phải công nhận:

Hoàng Sa, Trường Sa cùng những chủ quyền liên quan theo luật quốc tế hiện nay là thuộc Trung Cộng – tức Trung Hoa cộng sản, quốc gia vừa từng là “anh em răng môi”, vừa vẫn là “bạn vàng bốn tốt”, “đối tác chiến lược toàn diện” của Nhà nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam (tức Đảng Lao động Việt Nam vào lúc Công hàm của chính thể Hồ Chí Minh được công bố – chính thể Việt Nam hợp pháp duy nhất từ năm 1945 tới nay dưới nhãn quan của Đảng Cộng sản Việt Nam.)

Bởi vì:

-Một: Ta không thể tự mâu thuẫn khi vẫn thừa nhận tính chính đáng, tính đại diện của một nhà nước, một chính phủ lại vừa phủ nhận hành động của nhà nước đó, chính phủ đó khi tự xác định “có trách nhiệm tôn trọng triệt để” tuyên bố công khai của một chính phủ khác khi chúng ta đã hoàn toàn im lặng vào lúc cam kết đó được lập nên.

-Hai: Việc cố diễn giải nhằm bác bỏ tính ràng buộc của một cam kết (có tính khế ước) của một tổ chức mà ta thừa nhận tính chính đáng của nó, và khế ước đó còn tiếp tục được minh định thêm nhiều lần khác, bằng nhiều cách khác của chính tổ chức đó, không chỉ là sự ngạo ngược với tinh thần Pháp trị phương Tây mà còn phỉ báng chữ Tín phương Đông.

-Ba: Người còn liêm sỷ không thể vẫn coi một chính thể là “ngụy” – tức bác bỏ tính chính đáng của chính thể đó – nhưng lại dùng những phát ngôn, hành động của chính chính thể (bị coi là) “ngụy” đó để biện hộ cho sự “chính đáng” của bản thân.

Tất nhiên, cứ có kẻ cầm quyền thì có biện sỹ - những người nhiều kiến thức, giỏi biện luận, chuyên phò tá kẻ quyền thế để mưu bổng tước bất chấp đúng sai, đức nghĩa. Tuy nhiên cái lý trí cùng đạo đức sơ đẳng của con người đều phải biết không thể nào tuyên bố chấp nhận một toàn thể, rồi sau đó lại phủ nhận phần tử của cái toàn thể đó; người ta cũng không thể kiện, không thể đòi lại vật đã bán, đã cho bằng việc nại ra những hình ảnh về sở hữu vật đó trước khi bán hay cho. Những kiểu lý luận này chỉ là lối biện luận phi logic một cách ngang ngược mà dân gian đã đặt tên: cãi chày cối lấy được.

Biện sỹ là nghề đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm nay cả ở Đông lẫn Tây, sự sai lầm của con người càng không mới, nhưng đến thời này mà chúng ta vẫn thấy hạng biện sỹ đó còn đất dụng võ thì thật kỳ lạ, lối biện luận đó ta lại thấy ở những danh sỹ khoa bảng thì thật hãi hùng.

Vô ơn

Nhìn vào quan hệ của hai chính thể cộng sản Việt, Trung, ngoại trừ một giai đoạn khoảng hơn 10 năm (1979-1990), người ta không thể không thấy bao trùm lên quan hệ đó là sự gắn bó thân tình đặc biệt của hai nước láng giềng và Trung Cộng là bên đã giúp đỡ rất nhiều cho Việt Nam cộng sản. Ngắn gọn có thể nói, mỗi thành tựu quan trọng của chính thể Việt Nam cộng sản trước năm 1990 đều không thể thiếu sự trợ giúp của Trung Cộng.

Tư trang, quân dụng cho tất cả những người lính miền Bắc vào những thời kỳ đó, đặc biệt trong cuộc “kháng chiến chống Mỹ-Ngụy”, từ lính tới tướng, từ đầu tới chân, từ trong ra ngoài, cho tới cái ba-lô, bi-đông, lương khô, thuốc tăng lực, v.v. đều của Trung Hoa. Tình hữu nghị Việt-Trung còn được hiện thân vào những ca từ, những điệp khúc thiết tha, hào hùng: “Việt Nam, Trung Hoa núi liền núi sông liền sông, chung một biển Đông với tình hữu nghị sáng như rạng đông…Nhân dân ta ca muôn năm Hồ Chí Minh-Mao Trạch Đông. Hồ Chí Minh-Mao Trạch Đông.”

Ngay năm 1979, giữa lúc quan hệ hai đảng xuống tới mức thấp nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ:

“Năm 1950, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trung Quốc là nước viện trợ vũ khí, trang bị quân sự nhiều nhất cho Việt Nam trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp Nhân dân Trung Quốc, mặc dầu còn có nhiều khó khăn, nhất là trong những năm đầu của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đã dành sự giúp đỡ to lớn cho nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống bọn đế quốc xâm lược…, những người cầm quyền Bắc Kinh thường hay nhắc đến việc Trung Quốc viện trợ cho nước Việt Nam, thậm chí khoe rằng quân đội của họ đã “chiến đấu ở Điện Biên Phủ”, v.v….[i] (tôi-PHS nhấn mạnh những chỗ tô đậm)

Đó chỉ là góc nhìn hẹp từ phía Việt Nam. Vậy, một người Trung Hoa dân tộc chủ nghĩa sẽ nghĩ gì về những người Việt Nam hôm nay vừa ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam vừa bác bỏ Công hàm Hồ Chí Minh 1958, vừa lớn tiếng hô hoán cáo buộc Trung Cộng xâm lấn Hoàng Sa, Trường Sa?

Nguy hiểm

Như đã thấy, nếu căn cứ vào lý, tức đưa vụ việc ra kiện tụng, chắc chắn Trung Hoa cộng sản (Trung Cộng) sẽ có lý hơn – tức sẽ thắng Việt Nam (cộng sản). Còn nếu tranh cãi cứ tiếp tục leo thang, kể cả chỉ bằng phương pháp chính trị-ngoại giao và không phải là đóng kịch, nguy cơ xung đột quân sự vẫn rất có thể xảy ra. “Chiến tranh chỉ là sự tiếp tục của một chính sách chính trị bằng một phương tiện khác thôi.” (Clausewitz)[ii]

Chưa kể, hai chính thể toàn trị cộng sản Việt và Trung đều có những nhu cầu tự thân trong việc cải hóa tính chính đáng đang có chiều sa sút. Mà chiến tranh luôn là một vị có thể phải gia thêm trong thang thuốc bốc cho độc tài bất an.

Tuy nhiên, dù chưa bàn đến chênh lệch sức mạnh giữa hai quốc gia cũng như các yếu tố quốc tế, một cuộc chiến trên những cơ sở như thế, dù ở mức độ nào, chắc chắn không thể mang lại được ích lợi gì cho dân Việt Nam, ngoại trừ kẻ chuyên quyền.

Như vậy bất kỳ ai vừa thừa nhận tính chính đáng của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (chính là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) lại vừa cố đòi chủ quyền Biển Đông liên quan tới Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, họ vừa không chỉ tự mâu thuẫn, chống lại công lý mà còn có nguy cơ đẩy xung đột đi tới chỗ chém giết lẫn nhau, tai hại thêm cho lợi ích quốc gia của chính Việt Nam. Còn nếu tranh cãi chỉ dừng ở kiện tụng, đó cũng sẽ là những cuộc kiện tụng tốn kém tiền bạc, công sức của dân với một phán quyết gần như chắc chắn: Việt Nam (cộng sản) ít lý hơn.

Xấu hơn

Với lòng tự tôn dân tộc chúng ta có thể vẫn không tin, không chấp nhận thực trạng u ám trên đây. Nhưng sự thật tồn tại đâu cần sự đồng ý của chúng ta. Những văn bản, luận cứ bất lợi cho chủ quyền Việt Nam, như đã biết hoặc chưa biết, có thể đều đang nằm trong tay chính quyền Trung Cộng.

Cũng trong sách đã dẫn, tháng 10/1979 Đảng Cộng sản Việt Nam tiết lộ thế này:

Những người cầm quyền Trung Quốc đã nhận ngồi vào đàm phán với phía Việt Nam… Mặt khác họ đặt điều kiện tiên quyết là Việt Nam phải từ bỏ đường lối độc lập, tự chủ của mình, từ bỏ chủ quyền của mình đối với các đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì họ mới đi vào bàn bạc các vấn đề khác.”[iii] (tôi nhấn mạnh chỗ tô đậm)

Một dấu hỏi: Hội nghị Thành Đô 1990 chỉ là bước kế tiếp sau “điều kiện tiên quyết” vừa nói đã được thỏa mãn? Không ai có thể trả lời được nghi vấn này, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Cộng. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết một chi tiết khác:

“…Không có gì đáng ngạc nhiên là họ đã khước từ một hiệp định quân sự bí mật giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo hiệp định này về nguyên tắc đến tháng 6 năm 1965, phía Trung Quốc phải gửi phi công sang giúp Việt Nam. Nhưng…”[iv] (tôi nhấn mạnh chỗ tô đậm)

Như thế, không thể loại trừ Trung Cộng đã thủ đắc nhiều chứng cứ khác kiểu Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng” [sic]?

Vụ bạo động xảy ra một cách bất ngờ trong mấy ngày liên tiếp ở Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Áng trong tháng Năm vừa qua còn cho thấy một viễn cảnh xấu hơn. Dù nguyên nhân gốc từ đâu, như một số nhà phân tích đã nêu, do tình báo Trung Cộng giật dây hay do chính quyền Việt Nam cố tình tạo ra để lấy cớ dẹp biểu tình, chúng đều chỉ rõ: hoặc Việt Nam đã bị Trung Cộng thâm nhập, kiểm soát rất sâu tới mức chính quyền bất lực, hoặc chính quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam rất sắt máu với dân – sẵn sàng chịu một tổn thất không nhỏ cả về kinh tế lẫn chính trị (đối ngoại) để có cớ phòng và đè bẹp những nhen nhúm dân chủ đối lập còn rất nhỏ và yếu.

Vô âm

Vấn đề Biển Đông trong những năm qua cho thấy chủ nghĩa dân tộc kém tỉnh táo ở Việt Nam vẫn rất mạnh.

Khi vụ Giàn khoan HD981 xảy ra, khi báo đài của Đảng mới đổi giọng cao lên một chút, đã có nhiều người bày tỏ sẵn sàng vác súng ra trận bất biết đó sẽ là cuộc chiến vệ quốc hay lại vệ đảng (?).

Chỉ bằng một phát biểu có tính dân tộc chủ nghĩa, một ông thủ tướng bạo quyền đã rất nổi tiếng về hứa đẹp và chỉ hứa đẹp vẫn làm chao đảo dư luận, vẫn làm nhiều thức giả ngưỡng mộ, kỳ vọng ngất ngây.

Quá lo lắng cho quyền lợi dân tộc Việt đã khiến cả những người có trí tuệ không tầm thường chấp nhận một khẩu hiệu có nhân sinh quan cạn hẹp dễ khích động tha nhân: “Thoát Trung”.

Nhưng chủ nghĩa dân tộc không phải là thứ có thể độc quyền. Những người Hoa dân tộc chủ nghĩa quá khích chắc chắn không thể không thấy những phản ứng kể trên của người Việt. Họ cũng không thể không thấy những hiện tượng lạ lùng khác: Truyền thông nhà nước gọi nhân sỹ, trí thức đi biểu tình là “phản động”; người của Đảng đi biểu tình bị đạp mặt; những nhân vật như Lê Chí Quang vẫn trong vòng kiểm soát, Điếu Cày còn gần chục năm tù, Anh Ba Sàm chắc sẽ phải tù lâu, còn Bùi Hằng “hoa hậu biểu tình” sắp hầu tòa, v.v.

Quan sát như thế và lại nghe thấy “Thoát Trung”, những người Trung Hoa dân tộc chủ nghĩa không thể không nộ khí:

“Chúng mày đang bị chính chúng mày trói chân, trói cả tay cả đầu, thế mà vẫn còn hùng hổ 'Thoát Trung'. Ai cho thoát? Thoát đi đâu? Ngàn đời còn khổ các con ạ!”

Đó có thể là tưởng tượng phóng đại, quá khích, ác khẩu. Nhưng không thể lấy một chủ nghĩa dân tộc mù quáng để chống lại một chủ nghĩa dân tộc (lớn hơn nhiều) cũng mù quáng. Không thể tìm kiếm công lý, an bình cho dân tộc mình bằng sự trí trá, chà đạp một công lý khác.

Luồn vào chính sách uốn éo của cường quyền lệ thuộc phản trắc để đối phó với xâm lăng sẽ vừa vô ích, vừa rót thêm hoang mang vào lầm than của dân chúng, vừa dễ mắc bẫy, lại vừa bị người ta cười. Tất nhiên, không ai cười thành tiếng.

-Việt Nam phải câm lặng, chịu mất Biển Đông?- ○

(Còn tiếp)

Bài đọc thêm:




[i] Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự Thật, 10/1979, trang 28, 98, 101.
[ii] Triết gia quân sự Carl von Clausewitz (1780-1831) đã phát biểu (được dịch ra Anh ngữ): “War is the continuation of policy by other means. It is not only a political act, but also a true political instrument.”, Martina Sprague, Lessons in the art of war, Tuttle Publishing, 2011, trang 06.
[iii] Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự Thật, 10/1979, trang 94.
[iv] Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự Thật, 10/1979, trang 47.